Case Study : Quảng cáo trên Facebook của Baomoi Mobi

Tại sao chọn Facebook?

  1. Facebook đang là một trong những mạng xã hội phát triển nhanh nhất tại Việt Nam với dân số khoảng 900K (xấp xỉ với Zing Me – theo số liệu của Zing công bố), tuy nhiên về cảm quan cá nhân cho thấy Facebook có độ tương tác tốt hơn Zing Me rất nhiều.
  2. Facebook hỗ trợ việc quảng cáo & tracking quảng cáo tốt.
  3. Trong 900K người sử dụng, có khoảng 13% là 14-17, 50% là 18-24 và 30% là từ 25-34 tuổi (tổng cộng từ 14-34 tuổi chiếm 93% dân số trên Facebook). Dân số trẻ + hiểu biết về công nghệ (với giả sử là những người biết sử dụng Facebook có hiểu biết về công nghệ tốt hơn những người không hiểu biết về Facebook) là đối tượng phù hợp để Baomoi Mobi nhắm tới.

Mục tiêu của việc quảng cáo trên Facebook

  1. Quảng bá hình ảnh
  2. Support cho launching campaign
  3. Hỗ trợ Mkt cùng với các kênh khác đạt con số đều đặn (trong khoảng thời gian chạy quảng cáo) ít nhất là 1000 người sử dụng Baomoi Mobi mới trong một ngày

Phương thức

Sử dụng Facebook Ads trỏ tới trang http://baomoi.mobi với thông điệp : [Read more...]

“Vietnam 2.0″ : cần nhiều hơn một ý tưởng

Cách đây 3 tuần, Diadiem cùng 6 trang/dịch vụ web khác như Muaban.net, Nhaccuatui, Yume, Yeuthethao, Tinnhanh, YanTV, Webtretho và VinaPay đã tung ra một sản phẩm chung được đặt tên là Vietnam 2.0, nhằm cung cấp cho người sử dụng khả năng tìm đường, nghe nhạc, đọc tin, xem video… Ngày hôm nay, tại Mobile Dev Camp, đại diện của Diadiem.com đã giới thiệu chi tiết về ứng dụng này.

Theo lời giới thiệu, đây sẽ là một ứng dụng rất mở cho việc kết hợp, có nghĩa rằng bạn có thể tiếp tục tích hợp sản phẩm của bạn vào trong ứng dụng này nếu phù hợp. Việc có quá nhiều ứng dụng có thể sẽ gây nặng máy trong khi chạy (câu hỏi của bạn Công?) sẽ được giải quyết bằng phiên bản tiếp theo của Vietnam 2.0, ứng dụng có thể add và remove như Facebook. Điều đó có nghĩa rằng nếu bạn muốn, bạn có thể chỉ sử dụng Diadiem và Nhaccuatui (đây chỉ là ví dụ) mà không cần phải tải hết toàn bộ các ứng dụng. Trả lời cho câu hỏi về việc tại sao phải viết app, người đại diện của Diadiem giải thích rằng app có nhiều điểm lợi thế hơn wap và một người sử dụng mua điện thoại smart-phone sẽ có nhiều expectation từ app nhiều hơn là chỉ vào wap giống như các máy dumb-phone.

Đại diện của Diadiem cũng hy vọng rằng Mobile Dev Camp sẽ có những ý tưởng đột phá chứ không chỉ là copy lại từ nước ngoài để tiếp tục có thể tích hợp vào Vietnam 2.0

———————————

Hết phần report, chuyển sang phần sau khi nghe giới thiệu về Vietnam 2.0 thì chuyển sang hàng phở 24 ăn trưa với mấy người bạn. Tôi quyết định gọi một phần … cơm tấm sườn bì ốp la, vừa ăn vừa nghĩ về phở 24.

3903664466_5705be6d64

[Read more...]

Lợi thế 1 giây…

Điều quan trọng nhất của vận động viên chạy nước rút là gì? Là tận dụng mọi cơ hội để có thể chạy nhanh nhất tới đích mà không phạm luật. Mọi cơ hội bắt đầu từ điểm xuất phát.

3884843610_e438bc4326

Để xuất phát mà không phạm luật, có nhiều cách. An toàn nhất là đợi khi súng được bắn xong rồi thì mới xuất phát. Bớt an toàn hơn và cũng khó hơn là xuất phát đúng lúc súng được bắn. Chỉ hơn nhau một vài tích tắc.

—-

Nghĩ tới cụm từ “lợi thế 1 giây” khi dừng lại trên vạch đèn đỏ. Một vài tích tắc dường như là một khoảng thời gian rất khó đo đếm với người bình thường, nhưng 1 giây thì đo đếm được. Bạn gặp đèn vàng, và đúng luật thì bạn không được phép di chuyển (vì chỉ có đèn xanh mới được lưu thông). Tuy vậy bạn vẫn quyết định phóng vèo qua. Và thường thì không ai coi đó là phạm luật.

Cũng như vậy, không biết vì xã hội ngày càng stress hay sao mà người ta cũng cố gắng xuất phát ngay từ khi đèn đỏ cách đèn xanh 1 giây (có nghĩa là vẫn còn đèn đỏ). Cái này hay thấy ở người miền Bắc nhất, vì người miền Nam đỗ lấn qua cả đèn đỏ, thế nên thường là khi đèn đỏ chuyển đèn xanh vẫn không biết (và chủ yếu phải đợi tới khi bên kia dừng hẳn lưu thông thì mới đi). Thường thì khi bạn vượt đèn đỏ lúc chỉ còn 1 giây là chuyển sang đèn xanh, cũng không mấy ai nói bạn phạm luật (trừ một vài người khó tính lắm lắm, hoặc trừ các chú công an).

—-

“Lợi thế 1 giây” có thể coi là những lợi thế “chớm” vi phạm pháp luật, vi phạm các quy tắc đạo đức nhưng được xã hội “ngầm định” bỏ qua. Nếu bạn phát hiện ra và sử dụng tốt những lợi thế này, bạn không bị coi là vi phạm pháp luật, bạn không bị coi là vô đạo đức và bạn có thể làm mọi việc nhanh hơn. Tuy vậy, lợi thế này chỉ/bắt buộc dành cho một số ít người, vì nếu ai cũng có lợi thế thì lợi thế này không còn là lợi thế nữa.

—-

Điều khó nghĩ nhất của tôi khi nghĩ về “lợi thế 1 giây” là việc bạn sử dụng chúng như thế nào. Bạn biết rằng nó sai nhưng vẫn chặc lưỡi bỏ qua với suy nghĩ “Lần sau mình sẽ không làm như thế” hoặc bạn vui mừng reo lên “Bọn dở hơi, thế mà không biết tận dụng cơ hội”. Suy cho cùng, chuyện này cũng chẳng nên nghĩ vì dù có chặc lưỡi hay vui mừng, bạn cũng đã sử dụng nó.

—-

(photo of Katie Anderson – Under Creative Commons Licenses)

Rốt cuộc thì Social Media là cái của khỉ gì?

Khó nói nhỉ. Hét lên một tiếng tức tối như thế bởi thấy định nghĩa trên Wikipedia thay đổi liên tục.

Năm 2007, Wikipedia định nghĩa như thế này (xem tại PR 2.0):

Social Media - Wikipedia - 2007Năm 2008 và nửa đầu năm 2009, Wikipedia định nghĩa như thế này (“Social Media in Haiku’s way“):

Social Media - Wikipedia - 2008

Hiện tại, Social Media được định nghĩa như thế này (xem tại Wikipedia) :

Social Media - Wikipedia - 2009

Định nghĩa năm 2007 theo võ đoán là còn ảnh hưởng nhiều của Web 2.0, định nghĩa năm 2008 là một định nghĩa làm cho bản thân tôi cứ quẩn quanh mãi bởi khi Social Media được raise lên thì UGC tự nhiên thấy biến mất. Định nghĩa mới nhất là định nghĩa dễ hiểu nhất đối với tôi. Đơn giản là media thì phải là media, thêm chữ social thì có nghĩa là có tính social cao. Đến bao giờ thì định nghĩa này lại thay đổi tiếp?

Monitor, chúng ta phải monitor ….

Cả ngày hôm qua ở nhà sung sướng đọc lại bộ Tiếu ngạo giang hồ. Nếu Cổ Long làm cho bạn phải nghẹt thở bởi những tính toán của con người thì Kim Dung lại làm cho bạn sảng khoái bởi bối cảnh rộng hơn, với trùng trùng lớp lớp những ân oán nhưng rồi sẽ được giải quyết một cách hợp tình, hợp lý.

Bộ này chắc hầu như ai cũng biết. Câu chuyện xoay quanh Tịch Tà Kiếm Phổ và Quỳ Hoa Bảo Điển. Hai là một, một là hai, tất cả đều có gốc là bộ võ công xuất phát từ một thái giám. Cả võ lâm tranh giành nhau Tịch Tà Kiếm Phổ nhưng chỉ có 2 người luyện được là Lâm Bình Chi và Nhạc “Mất” Quần (+ Đông Phương Bất Bại luyện thành Quỳ Hoa Bảo Điển). Luyện được bộ này phải có một điều kiện rất ác : tự cung.

——–

Tiếu ngạo giang hồ với Tịch Tà Kiếm Phổ và Quỳ Hoa Bảo Điển cho tôi thấy rõ … UGC (User Generated Content) ngày xưa như thế nào. Chả phải nó là UGC được tạo ra bởi một thái giám hay sao? Chả phải nó được lan truyền trong khắp giang hồ hay sao? Chả phải là Tịch Tà Kiếm Phổ và Kiếm Pháp đã được Nhạc Mất Quần sử dụng Lao Đức Nặc để truyền ra một bộ … fake cho phái Tung Sơn, dẫn tới Tả Lãnh Thiền phải mù mắt hay sao?

———

Giả sử bây giờ tôi có một case study cực hay về việc làm sao xây dựng được Data Center mà không cần sử dụng hệ thống làm mát. Case Study này được tôi giữ kín, nhưng không hiểu vì lý do nào đó mà một ai đó biết được, thế rồi Twit ầm ĩ lên trên mạng. Giang hồ bắt đầu bàn ra tán vô, chắc là máy chủ của tôi phải tản nhiệt tốt lắm, chắc là tôi bốc phét chứ làm sao mà làm thế được. Thế nhưng tại mọi người không được đọc nên không biết rằng để làm được điều đó thì có một điều kiện rất ác : Data Center của tôi đặt ở gần Nam Cực :mrgreen: , thế nên khỏi phải tản nhiệt với làm mát gì cho mệt. Bạn mà cứ nghe thiên hạn twit ầm lên rồi làm thử như tôi ở tại nơi nóng nực như Việt Nam thì thể nào có ngày cũng cháy CPU như Tả Lãnh Thiền mà thôi :twisted:

Ít nhiều thì có tí gượng ép, nhưng hành vi là giống nhau phải không? Trước tới nay vẫn nghĩ rằng, máy tính ngu lắm, chẳng qua nó giúp cho con người làm mọi thứ nhanh hơn mà thôi!.

———-

Nói qua nói lại chả nói gì liên quan về chuyện Monitor cả. Chẳng phải cả thiên hạ võ lâm đều đổ đi tìm Tịch Tà Kiếm Phổ hay sao? Nơi đâu có thông tin về Tịch Tà Kiếm Phổ, nơi đó có đổ máu. Thế chẳng phải là monitor là gì? Thế nhưng ngay trong bộ này, có hai ví dụ cho thấy rằng việc monitor thực ra rất khó (mà hồi đó chưa có Internet đâu nhé). Một là việc Nhạc Mất Quần đá vào lưng Lệnh Hồ Xung một phát đã ngã lăn quay ra để làm cho Tả Lãnh Thiền tin rằng Nhạc Mất Quần võ công kém cỏi, hai là việc Nhạc Mất Quần liên tục dò hỏi Nhạc Linh San xem giữa cô và Lâm Chí Bình (Lâm Bình Chi, tks Xoài) ân ái có mặn nồng hay không (vì đã tự cung thì làm sao mà … :oops: ). Ai dè Nhạc Linh San bênh chồng cho tới chết lại gật đầu lia lịa khiến Nhạc Mất Quần bị lừa.

———–

Internet giúp cho việc monitor dễ dàng hơn. Dễ hơn đối với những gì reachable. Ví dụ như search ra nhanh hơn. Nhưng với những thứ unreachable thì không đơn giản. Search ra là một chuyện, hiểu được nó là chuyện khác.

———–

Sáng nay có ngồi nghĩ một chút về UGC. Đứng trên quan điểm của người tạo ra (owner) UGC, việc monitor những gì thiên hạ nói về Content của mình là tương đối khó khăn. Khó khăn ở chỗ là khi càng có nhiều công cụ và platform để publish content xuất hiện thì việc monitor nó lại càng khó. Tôi có nghĩ tới việc có nên gọi là do ảnh hưởng của viêc socialize comment hay không nhưng cũng không chắc. Trước hết cứ vẽ ra vài cái hình cho dễ hiểu chứ nói nhiều quá bản thân tôi cũng loạn đầu luôn :mrgreen: . [Read more...]

Content và relationship tương hỗ với nhau như thế nào?

(Viết lại tí để trả lời rõ hơn cho comment của bạn Batman.)

Đầu tiên hai bạn chả quen biết gì nhau, mỗi bạn đều sản xuất content của riêng mình :

2009-09-05_1007

Sau đó bạn số 1 vì một lý do nào đó tìm thấy content của bạn số 2, thế là follow bạn số 2 để đọc/comment content của bạn đó (follow ở đây có thể là add RSS, có thể là follow ở Twitter, xin add Facebook hoặc tương tự như vậy).

2009-09-05_1010

Vì một lý do nào đó mà các bạn không follow được nhau, content của bạn số 2 là unreachable với bạn số 1 thì coi như “tình duyên đôi ta” tới đây là hết. Nếu như mọi chuyện suôn sẻ, bạn số 2 biết được bạn số 1 follow mình, nhảy vô đọc content bạn số 1 thấy cũng hay hay, vậy lúc đó relationship hai chiều giữa các bạn đã sinh ra.

2009-09-05_1013

Khi relationship đã nảy sinh thông qua content như ví dụ này, bạn 1 chăm chú đọc content của bạn 2, bạn 2 chăm chú đọc content của bạn 1. Đến đây nảy sinh ra nhiều tình huống :

  • Bạn 1 tự nhiên viết dở quá, bạn 2 không muốn đọc nữa, thế là xóa. Xóa rồi là hết cả relationship luôn.
  • Bạn 3 biết được bạn 1 thông qua bạn 2 vì tò mò xem các contact của bạn 2. Nếu bạn 3 mà thấy bạn 1 nói nhảm thì không nói làm gì, ngược lại lại thấy content bạn 1 cũng hay hay thì lại lặp lại quá trình kết nối. Lúc này relationship (giữa bạn 3 và bạn 2) đã có nhiệm vụ giới thiệu bạn 1 cho bạn 3 nhưng content của bạn 1 vẫn là một trong những thành tố quyết định relationship giữa bạn 1 và bạn 3.

2009-09-05_1018

Vậy thì nghĩ gì được ở đây? Relationship phải tự nhiên có lý do mới sinh ra (tỷ như là họ hàng với nhau, học cùng nhau, đọc blog của nhau, chém gió cùng nhau…) Maintain mối quan hệ này cũng phải có “người thực việc thực” mới được, chứ nếu không thì “bán anh em xa mua láng giềng gần ngay”. Như vậy là content một mặt để thể hiện cái tôi của người sản sinh ra nó, một mặt cũng chính là để maintain những mối quan hệ cũ và sản sinh ra mối quan hệ mới. Đúng không nhỉ?

Relationship có vượt mặt được content hay không?

(viết thêm xíu bổ sung cho bài này)

Khi Web 2.0 rộ lên thì một trong những câu cửa miệng là “Content is King”. Khi Social Media rộ lên thì cũng có ý kiến cho rằng “Relationship is King”, Content là Queen hoặc gì đó.

Bản chất việc tách biệt Content và Relationship là có thể làm được, nhưng chỉ đúng trong trường hợp mà Content hoặc Relationship xuất hiện riêng lẻ. Nếu xuất hiện cả hai thì việc tách biệt ra có lẽ là không đúng. Âm và dương vốn chỉ là hai mặt của một vấn đề.

——
Flying together

Hot girl tạo dựng quan hệ bằng gì? Bằng ảnh hot. Ảnh hot là content phải không?

Bạn follow một ai đó vì sao? Vì người đó viết hay và có ích cho bản thân bạn. Viết là content phải không?

Bạn kết nối với bạn học cũ qua Facebook, đó là relationship phải không? Nhưng mối kết nối đó có trở nên thân thiết trở lại hay không thì lại phụ thuộc vào chuyện bạn có khả năng giao lưu với người đó hay không. Hoặc chí ít cũng là post ảnh hồi xưa và tag người đó vào. Vậy lại là content phải không?

——

Content quyết định phần lớn độ bền vững của relationship. Vậy relationship quyết định cái gì của content? Đoạn này tôi phải suy nghĩ thêm. Viết một cái gì cho ai đó, nhịn không nói một điều gì vì ai đó, up một tấm ảnh lên facebook (mặc dù tấm đó xấu hơn mức bình thường) vì có mặt của một ai đó… là các ví dụ trên bề mặt của việc relationship ảnh hưởng tới content. Nhưng chỉ là bề mặt, bản chất chắc phải suy nghĩ thêm.

Social Media in Brand Manager’s view – 1

Hôm nọ mới nhờ bạn bè gửi câu hỏi đi để phỏng vấn các anh chị làm quản lý nhãn ở Việt Nam về Social Media để tiếp tục điền thông tin vào Wiki của SocialMediaVietnam.  Hôm qua mừng húm đã nhận được bài trả lời đầu tiên từ một BM làm trong ngành Food & Beverage (Xin được ko nêu tên và công ty trong loạt bài phỏng vấn này. Thiết nghĩ lấy được cái insight là đủ, tên tuổi hay công ty dù có to hay bé cũng sẽ gây ra những bàn tán không chính xác và không cần thiết).

——-

1.Bạn có nghe tới khái niệm Social Media chưa? Nếu có thì bạn có thể kể ra 3 cái tên liên quan tới SM được không? Nếu câu trả lời là không nghe bao giờ, vậy bạn đã nghe tới Facebook, MySpace hay Twitter bao giờ chưa?

Rồi: Facebook, Multiply, and Yahoo 360
2.Những điều bạn được nghe/giới thiệu về Social Media đã được các Agency giới thiệu một cách chính thức/đi dự hội thảo nghe giới thiệu hay là do bạn tự tìm hiểu và tự sử dụng ?

Chủ yếu là do tự tìm hiểu và tự sử dụng
3.SM cung cấp khả năng đối thoại hai chiều trong khi Marketing truyền thống chỉ đưa ra các thông điệp 1 chiều. Bạn nghĩ rằng kết luận này đúng hay sai?

Đúng


4.Theo bạn, những kiến thức Marketing truyền thống khi áp dụng vào môi trường mới có tính tương tác cao như Internet và SM liệu còn có đúng hay không?

Đúng, vẫn phải dựa trên những yếu tố cơ bản, và cộng thêm những yếu tố riêng biệt của môi trường Internet.


5.Nếu bạn đã có nhận thức về SM, bạn có ý định sử dụng nó trong chiến dịch Marketing của bạn không? Bạn mong muốn điều gì khi sử dụng SM?

Việc sử dụng hay không còn phụ thuộc nhiều yếu tố khác (như có phù hợp với brand không, target consumer, etc) và đương nhiên mong muốn về media benefit tính ra ROI phải effective hơn other channels.

6.SM và Internet đang phát triển rầm rộ ở VN. Bạn có nghĩ rằng SM Mkt và Online Mkt sẽ phát triển trong thời gian gần không?

Sure
7.Việc áp dụng các kênh mới có thể sẽ dẫn tới việc thay đổi nhận thức của cả một hệ thống. Bạn có sẵn lòng thuyết phục mọi người xung quanh về xu hướng không thể cưỡng lại của Online Mkt và SM Mkt không? Hay bạn sẽ chờ khi người khác làm xong rồi bạn mới làm?

Sẵn sang thuyết phục cùng với sự chuẩn bị về fact & figure, study, etc.

8.Nếu nói ROI của SM không thể tính trực tiếp bằng tiền được nhưng sẽ giúp cho bạn “nghe” và “đối thoại” với khách hàng một cách tốt hơn hẳn cách làm truyền thống, bạn vẫn sẽ sẵn sàng sử dụng SM chứ?

Không hẳn phải là ROI, nhưng phải có measurable KPIs.

——-

Rất thực tế và cũng rất update, phải không?

Update 1 : #5,#7,#8 là những câu làm mình suy nghĩ rất nhiều.

Tại sao Social Media lại phải có ROI?

Nhảm sau khi đọc xong bài này : “Why Measure ROI of Social Media?“. Đơn giản thôi, nó phải có ROI bởi vì nếu nó ko có ROI, mọi thứ đều diễn ra một cách tự phát và tản mát. Điều này sẽ dẫn tới không ai trả tiền cho một môi trường tự phát và tản mát như vậy.

Trouble của Social Media ROI là đang coi nó như một môi trường Marketing chứ không phải môi trường truyền thông có tính xã hội cao. Mà Marketing là bỏ tiền ra để phục vụ tối ưu hóa thỏa mãn một nhu cầu gì đó và thu lại được lợi nhuận nhiều nhất. Túm lại là phải trả tiền và phải đo đếm được kết quả. Nếu không có ROI, một người làm Social Media sẽ chẳng thể nào được thưởng, chẳng thể nào được tăng lương hay thậm chí là khó chứng minh được kết quả mình làm bởi mọi thứ đều chỉ “có vẻ” thế này thế kia chứ không có một con số cụ thể chứng minh được là anh ta đóng góp thực sự bao nhiêu. Ngày hôm nay đẹp trời thì mấy vị trên Twitter, Facebook có thể nói tốt về sản phẩm của anh, nhưng ngày hôm sau con họ ốm, họ bị sếp mắng, họ bị bồ đá… chắc gì họ đã không choảng cho anh và sản phẩm của anh vài phát. Mà nếu không có tiền như thế, thì chẳng ai lại muốn làm một cách chuyên nghiệp làm gì!.

Nhảm vòng tiếp sang bài này : “An Expert with no Experience“.  Bài này viết quá xuất sắc rồi nên mình chẳng còn dám nói gì nữa, post ra đây đoạn mình thích nhất.

2009-09-03_1304Tựu trung lại là, Social Media Marketing chuyên nghiệp cần phải có ROI để đánh giá, còn ROI thế nào và đánh giá thế nào thì chưa biết. Giờ chưa có ROI thì cứ đành phải tin vào hoa hồng, kiếm một ông sếp nào đó cũng tin vào hoa hồng để có thể bơm cho ít tiền và luyện tập cần cù, trải nghiệm thật nhiều, làm tới làm lui chứ đừng có ngồi mà chém như thánh, nghĩ rằng mình manipulate được vài trăm followers của mình là manipulate được cả thiên hạ.

Update 1 : bài này “The Danger of Social Media for Ad Agencies?” cũng khá hay. Phải chăng chính bởi vì ROI không rõ ràng nên các Ad Agencies còn ơ hờ?

3 lý do mà các bạn làm web 2.0 nên coi Vietnam Pocket Book của Nielsen

1.Để tránh mơ mộng. Các bạn cứ mơ mộng rằng Việt Nam ta theo VNNIC là có tới 21 triệu thuê bao Internet, ta làm gì mà không nhõn được vài triệu đến chục triệu thuê bao Internet thành loyalty users của mình cơ chứ. Sự thật thì 21 triệu là thuê bao quy đổi (ví dụ như con số thuê bao thật Internet ADSL của VNPT rơi vào khoảng 3 triệu, sau đó nhân với chỉ số quy đổi – ví dụ như 4 người/gia đình/thuê bao -> 12 triệu users quy đổi) chứ không phải là users thật. Thêm nữa, 21 triệu thuê bao này không ai nói cho bạn biết là có bao nhiêu người ở urban, bao nhiêu người ở rural, thu nhập của họ như thế nào, họ có sẵn sàng và có thời gian để xài sản phẩm dịch vụ của bạn hay không. Vì thế, việc đầu tiên phải làm là nghiên cứu kỹ demographic để coi mình reach được tới đâu.

2.Để biết Internet Usage như thế nào. Rất đáng buồn là Vietnam Pocket Book 2009 chỉ có đúng 1 trang duy nhất về Internet Usage tại hai thành phố chính (Hà Nội & HCM), ít hơn so với Vienam Pocket Book 2006. Tuy vậy, trang đó cũng nói lên được khá nhiều thứ :

2009-09-03_0952

Tuy cuốn này phần nhiều sẽ phục vụ các khách hàng lớn của Nielsen (tức là FMCG và Food & Beverage) nên phần Internet có thể chưa được coi trọng, tuy vậy cũng có thể đó là tín hiệu cho thấy rằng Internet chưa hẳn là vấn đề cần phải coi trọng. Rõ ràng nếu xét ở vị trí của những người quản lý FMCG và Food & Beverage thì Internet chưa thể giúp cho họ nhiều và nhanh như các môi trường và công cụ khác được. Hơn nữa, số lượng người dùng Internet chưa tới 50% dân số, có nghĩa rằng số người không dùng Internet nhiều hơn số người dùng Internet, chưa kể là họ dùng để làm gì (có xài Web 2.0 hay mạng xã hội gì đó hay không). Lấy số của Mỹ và đặc biệt Trung Quốc để áp vào thị trường Việt Nam là một trong những sai lầm khủng khiếp, bởi tính chất của hai thị trường đó khác hẳn Việt Nam.

3.Để update và so sánh. Có rất nhiều thứ có thể so sánh được. Tỷ lệ Urban/Rural tăng hay giảm, số dân ở các thành phố chính tăng hay giảm, tỷ lệ gái/trai tăng hay giảm, dựa vào đó có thể điều chỉnh sản phẩm của mình cho phù hợp.

Rất mừng là bạn Nielsen Việt Nam đã public cuốn này online, do vậy mọi người có thể download tại đây (tks Anh Hùng vì đã share cái link này). Hy vọng rằng mọi người sẽ thu được nhiều thứ hay ho từ cuốn này.

—-

Update 1: theo con số của một người bạn trong ngành thì số thuê bao thực của VNPT ADSL hiện tại đang có khoảng 1.4M

Update 2 : Thống kê sơ bộ về Urban/Rural không có thay đổi nào đáng kể sau 3 năm.

2009-09-03_1053