5 câu hỏi khi làm Facebook Marketing của Dan Zarrella

Dan Zarrella trong bài viết của mình vào tháng 01/2011 đã đưa ra năm câu hỏi rất chính xác cho những người muốn làm Marketing trên Facebook thông qua content. Để xem chi tiết về 5 câu hỏi này, xin được đọc blog của Dan Zarrella. Tóm gọn lại, bạn cần quan tâm tới các vấn đề sau khi post content lên Facebook :

  1. Post vào giờ nào trong ngày?
  2. Post vào ngày nào trong tuần?
  3. Post content loại nào?
  4. Post những từ ngữ nào là thích hợp, những từ ngữ nào là không thích hợp?
  5. Tần suất post bao nhiêu là phù hợp?

Cá nhân mình cho rằng đây là những câu hỏi đúng và không chỉ áp dụng đối với Facebook mà có thể áp dụng đối với bất kỳ mạng xã hội nào như Twitter, ZingMe hay Linkhay. Quay lại Facebook, sáng nay cũng mới đọc được một bài viết trên trang AllFacebook, trong đó có đoạn :

For pages, people are considered active users if they have visited the page; viewed a post by the page; or interacted with a post.

Nếu là quản lý của một Pages trên Facebook, chắc hẳn một trong những công cụ bạn phải quan sát hàng ngày là phần Insights (cũng giống như Webmaster phải quan sát Google!Analytics hoặc một công cụ tương tự). Tuy nhiên, phần Insights trên Facebook lại không thể trả lời cho bạn những câu hỏi mà Dan Zarrella đã hỏi (chính xác hơn là các bạn Facebook chưa “thèm” trả lời mấy câu hỏi đó). Trong công cụ Fan Page Monitoring Tools của mình, mình cũng chỉ trả lời được câu hỏi số 1 và số 2 theo một cách tương đối khiên cưỡng vì chỉ monitor được xem giờ nào Fan Post đạt cao nhất. Tuy vậy, Fan Post là mức cao nhất của sự tương tác (> Comment > Like > View) nên cũng không thể chỉ dựa vào Fan Post để đưa ra kết luận. Ví dụ, đối với 3 trang đang có mức tương tác cao hiện tại trên Facebook thì Fan Post tính theo giờ của các trang như sau :

Fan Post - Cu Trong Xoay - Facebook(Page của Cù Trọng Xoay)

Fan Post - TCCL - Facebook

(Page của TCCL)

Fan Post - Doraemon Che(Page của Doraemon chế)

Nếu chỉ nhìn vào 3 biểu đồ trên để nói rằng Fan Active nhất vào khoảng 9h tối thì chưa thật chính xác bởi active còn mang nghĩa là comment, like và thậm chí là view nhưng nếu kết hợp thêm với các công cụ bên ngoài như Google!Analytics hoặc kết hợp với Insights của Facebook, mình có thể chọn giờ tốt hơn để tiếp cận với các Fan. Cũng như vậy, tần suất và loại content để post cũng là một yếu tố quan trọng mà những người quản lý Fan Page hoặc cộng đồng nói chung cần quan tâm bởi nói quá nhiều thì có khi chẳng được ưa, mà nói quá ít thì lại bị trôi tuột đi mất. Cuối cùng, điều khó nhất với cá nhân mình là chọn lựa từ ngữ cho phù hợp bởi cũng chưa thật sự biết chính xác từ ngữ nên chọn lựa như thế nào. Mới đây cũng đã thử kết nối phần tự động tách từ khóa của Baomoi vào Monitoring Tool của mình để track thử xem các Admin của Page cũng như bản thân mình hay sử dụng từ ngữ gì nhất. Hy vọng sau một thời gian sẽ rút ra được kinh nghiệm tốt hơn. Ví dụ, hãy xem Fan Page của Gào nói gì nhiều mà thuyết phục được nhiều Fan tuổi teen ấn Like thế?

Kw - Gao - Facebook

Làm Social Media Marketing theo cách của hãng hàng không giá rẻ AirAsia

Định viết về AirAsia từ khi đi Ấn Độ về nhưng rồi lười biếng nên cứ chần chừ mãi chưa viết. Hôm nay, xem được cái Infographic thấy AirAsia đứng thứ ba trong số các hãng hàng không châu Á “nói” nhiều nhất trên Twitter (trong tháng 3/2011) nên mới hạ quyết tâm viết một bài để tổng hợp lại những gì AirAsia đã làm và đã được lợi trong thời gian qua với Social Media.

Trước hết phải nói rằng mình rất happy với AirAsia qua chuyến đi vừa rồi khi bay từ Malaysia sang Ấn Độ trên chuyến bay dài hơn 5 tiếng ngồi Boeing thoải mái (hơn JetStar của Việt Nam) mà chỉ mất có khoảng … 50 USD cho hai chiều. Khó có thể đòi hỏi gì hơn với một chặng đường dài và một số tiền bỏ ra nhỏ như thế, vượt trên cả mức mình mong đợi. Lần mò tìm hiểu về AirAsia, tìm được một slide khá hay tại đây. Trong slide đó, nói khá rõ về Value Proposition, Competitive Advantages và Marketing Strategies của AirAsia. Để đọc kỹ thì bạn có thể (và nên đọc toàn bộ slide đó vì có một phần chú trọng tới việc sử dụng công nghệ để giảm chi phí), còn lại mình chép nhặt 3 phần nói trên ra đây để 8 tiếp (click vào hình để phóng to) :

 

AirAsia - Value Proposition
AirAsia – Value Proposition
AirAsia - Competitive Advantages
AirAsia – Competitive Advantages
AirAsia - Marketing Strategies
AirAsia – Marketing Strategies

Fan Page trên Facebook của AirAsia được tạo vào tháng 4/2009 và đạt 100K fans vào tháng 12 cùng năm khi bắt đầu chạy chiến dịch giảm giá 20%. Sau đó 3 tháng, Fan Page này đạt 205.280 fans và hiện tại theo SocialBakers đã đạt mức gần 1 triệu fans! Kathleen Tan, linh hồn của các chiến dịch này đã nhận xét rất đúng khi cho rằng đây thực sự là cách tiếp cận tốt và có thể dễ dàng phá vỡ rào cản của các phương pháp marketing truyền thống.

“Lifestyle changes on the digital front as news and information are now made available real-time via the social media platform. This has prompted AirAsia to engage in social media to connect with our guests, and the response has proven to be encouraging through AirAsia’s Facebook Fan page.”

We interact, listen, have some fun, engage and action if we encounter complaints and not hide. Transparency is crucial. Of course we are also learning lessons on how to improve.”

“You can say that AirAsia’s Facebook Fan Page has become a one-stop service centre for guests travel needs…”

Hôm trước trong 5Desire nhớ rằng có bạn bên Thái Hà Book hỏi rằng liệu nhân lực ít có làm Social Media được không? Bé tí như ePi thì không vấn đề gì nhưng ngay cả như AirAsia lúc khởi đầu cũng chỉ có duy nhất 01 nhân viên chuyên trách về mảng này. Sau khi Fan Page trên Facebook bùng nổ và đạt tới con số 300K, AirAsia đã có 5 nhân viên chuyên trách 24/7 và sau đó mở rộng lên đến 7 người. Ms Tan cũng chia sẻ rằng Facebook là miễn phí và thay vì sử dụng một chiến dịch dùng quảng cáo trên báo giấy tốn 2 triệu RM (~ 660.000 USD), họ đã thử thực hiện chiến dịch này trên Facebook. Với 3-4 ngày khởi động bằng các thông báo, trong ngày chính thức chạy chiến dịch thì server book vé đã … sập luôn và kết quả AirAsia có được gần 900.000 lượt book vé thành công sau hai ngày chạy chiến dịch. Một điều mà Ms Tan chia sẻ (mà có lẽ cũng rất thực tế) là việc thông báo trên Fan Page còn tốt hơn quảng cáo trên báo ở chỗ các Fan trên Facebook đã có hiểu biết sẵn về chiến dịch nên không gọi điện tới Call Center chỉ để hỏi thông tin (và không mua vé) khiến Call Center bị lụt nhưng hiệu suất lại không cao. Nhờ đó, Fan Page trên Facebook và Twitter còn giúp cho AirAsia giảm tải công việc của Call Center. Sau trải nghiệm này, Marketing Strategy của AirAsia này ngày càng chuyển dịch nhiều về Online và Social Media hơn.

Không chỉ có Facebook và Twitter, Air Asia cũng đã mở rộng tới cả các mạng xã hội địa phương như Renren hay Sina (bao giờ tới Zing, Go và BạnBè nhỉ?) Đồng thời, họ cũng mở các Fan Page trên Facebook cho từng quốc gia một (tuy nhiên hình như chưa có ở Việt Nam. Lần trước khi delay một ngày chuyến bay của mình, ngoài gửi thư thì Call Center tại Indonesia cũng đã gọi điện tận nơi để thông báo lại cho mình biết). Ngoài ra, FlickrYoutube Channel cũng là một phần trong chiến lược sử dụng Social Media của AirAsia.

Để đạt được điều này, AirAsia có một sự thống nhất toàn diện từ lãnh đạo cấp cao và đây thực sự là một nhân tốt cực kỳ quan trọng trong việc triển khai Social Media thành công tại doanh nghiệp.

“This is a movement not just at the corporate level but generally our staff also embrace it and use as tools to communicate and share experiences. It is driven at top level as most of our CEOs and senior management tweet, including me.” – Ms Tan

Không hẳn là AirAsia không có những lúc chưa thực sự sử dụng hiệu quả Social Media, tuy vậy khi có sự nhất quán từ trên xuống dưới, có đội ngũ 24×7 chuyên biệt để ngụp lặn trên môi trường Social Media, AirAsia thực sự đang chuyển hóa cách làm PR với việc sử dụng môi trường online, nâng cao khả năng hỗ trợ và giao tiếp khách hàng, cung cấp cho khách hàng một touch-point cởi mở và dám làm dám nhận, tạo điều kiện để brand va đập và tiến sát với trải nghiệm thực của khách hàng. Đúng như lời Ms Tan nhấn mạnh “social media is a commitment – it isn’t just about learning about theories and technologies, it’s about immersing yourself in social media as well“.

Nhìn lại hàng không Việt Nam, có một chút thoáng buồn. Nếu bạn tìm thấy Fan Page hay active Twitter Account của Jetstar (hay một account khác liên quan tới Social Media ở VN), xin hãy chỉ cho mình. Cá nhân mình thì có tìm thấy một Fan Page của Vietnam Airlines trên Facebook với gần 15K fans nhưng có vẻ hoạt động rất cầm chừng kể từ khi Facebook bị chặn không chính thức. Hy vọng rằng qua bài học của AirAsia, các hãng hàng không Việt Nam sẽ có thể có cách làm tốt hơn với môi trường online. Đương nhiên, nếu họ muốn và cảm thấy cần làm!

Epic Fail – màn hành hạ mèo trên chương trình “Con yêu của mẹ”/VTV

Không còn gì để bình luận. Nghĩ sao làm chương trình này cho trẻ con vậy? Hem biết liên quan gì tới Webtretho không, chứ thấy Webtretho chạy vè vè quảng cáo thế này thì thiệt quá. Mèo nó biết nói, chắc nó bảo khán giả buộc ông đạo diễn/agency nào làm cái này vào chai nhựa rồi lật úp mặt xuống bể bơi mấy phút xem cảm giác thế nào quá? Giáo dục cho trẻ em kiểu này kỳ quá  :-( Toàn bộ câu chuyện, chả có tí thương xót gì con mèo :-(

Nghĩ về bong bóng mạng xã hội và sự tồn tại vững chắc của forum tại Việt Nam

Viết bài này bắt đầu từ sau khi đọc phần thảo luận này trên LinkHay và bài gốc tại BusinessWeek. Để nói về bong bóng mạng xã hội, lại phải đọc lại bong bóng dot-com trước khi viết tiếp bất cứ thứ gì. Wikipedia nói rằng :

Venture capitalists saw record-setting growth as dot-com companies experienced meteoric rises in their stock prices and therefore moved faster and with less caution than usual, choosing to mitigate the risk by starting many contenders and letting the market decide which would succeed. The low interest rates in 1998–99 helped increase the start-up capital amounts. Although a number of these new entrepreneurs had realistic plans and administrative ability, many more of them lacked these characteristics but were able to sell their ideas to investors because of the novelty of the dot-com concept.

The dot-com model was inherently flawed: a vast number of companies all had the same business plan of monopolizing their respective sectors through network effects, and it was clear that even if the plan were sound, there could only be one network-effects winner in each sector, and therefore that most companies with this business plan would fail. In fact, many sectors could not support even one company powered entirely by network effects.

According to dot-com theory, an Internet company’s survival depended on expanding its customer base as rapidly as possible, even if it produced large annual losses. For instance, Google and Amazon did not see any profit in their first years.

Public awareness campaigns were one of the ways in which dot-coms sought to expand their customer bases. These included television ads, print ads, and targeting of professional sporting events. Many dot-coms named themselves with onomatopoeic nonsense words that they hoped would be memorable and not easily confused with a competitor.

More in-depth analysis shows that 50% of the dot-coms companies survived through 2004. With this, it is safe to assume that the assets lost from the Stock Market do not directly link to the closing of firms. More importantly, however, it can be concluded that even companies who were categorized as the “small players” were adequate enough to endure the destruction of the financial market during 2000-2002. Additionally, retail investors who felt burned by the burst transitioned their investment portfolios to more cautious positions.

Đọc nhanh có thể thấy rằng bong bóng dot-com tại Mỹ đã xảy ra do việc đổ vốn một cách dễ dãi vào nhiều sản phẩm có mô hình giống nhau, đồng thời các sản phẩm này đốt tiền khá nhanh và không có nhiều sự lựa chọn trong việc tiếp cận khách hàng (dẫn tới việc bỏ nhiều tiền cho quảng cáo offline). Bong bóng này vỡ nhưng big-player có giá trị vẫn tồn tại được, và vỡ do rất nhiều nguyên nhân khác nhau (xin đọc kỹ bài trên Wikipedia – các nguyên nhân liên quan tới chính sách, thị trường…) Có thể nói, vỡ là vỡ các player vốn đã mong manh như bong bóng, chỉ cần thị trường hắt hơi là xẹp.

————————————————————

Bong bóng đang trở lại? Với một dạng thức khác tinh vi hơn? Điểm đầu tiên để nói là việc đổ vốn một cách dễ dãi. Ở Mỹ và ở Việt Nam đều vậy. Không muốn nói và không muốn nhắc tới những sản phẩm đã chết, âm thầm hoặc công khai chết nhưng không ít các sản phẩm (ở tại Việt Nam) được xây dựng bởi những công ty lớn và những con người rất chuyên nghiệp. Nhưng rồi ngỏm vì đổ vốn dễ dãi quá. Sự dễ dãi này có căn cơ từ một điều rất cũ, đã từng được nói rất nhiều trong dot-com bubble : mô hình kinh doanh dựa vào việc phát triển bề rộng, có càng nhiều người sử dụng càng nhanh càng tốt trong khi còn loay hoay trong việc kiếm tiền trên những người sử dụng này như thế nào. Hammerbacher trong bài báo của BusinessWeek đã phải thốt lên “That’s suck” là vì như vậy. Là một trong số 100 nhân viên đầu tiên của Facebook, Hammerbacher có nhiệm vụ nghiên cứu hành vi của người sử dụng Facebook và để cuối cùng để Facebook lại sử dụng một mô hình rất cũ để kiếm tiền : quảng cáo. Dù hình thức quảng cáo lần này có hướng đối tượng hơn, thì đó vẫn là bài cũ : nhiều users, nhiều traffic và hy vọng là CTR sẽ cao.

————————————————————

Wave thứ nhất là để giải quyết vấn đề về thông tin, dạng know-how. Wave thứ hai cũng là để giải quyết vấn đề về thông tin, dạng social (copy của bạn Xoài). Wave thứ ba là gì? Bạn Xoài và nhiều người khác vẫn đang đi tìm. Trong khi bạn Xoài và người khác đi tìm, một số bạn guru khác ở Mỹ như Hammerbacher bỏ ngang đi làm việc khác có ích hơn cho đời thì vẫn có nhiều người khác kiếm được tiền. Tỷ như Groupon kiếm được một đống tiền. Tỷ như Color kiếm được một đống tiền đầu tư. Tỷ như TechCrunch kiếm được một đống tiền từ AOL nhờ việc viết về một đống các bạn khác kiếm tiền như thế nào.

Google và Facebook đại diện cho hai làn sóng thông tin ập tới nhanh, mạnh và thừa mứa với người sử dụng trong hai thập kỷ gần đây. Thông tin đến từ SE giờ lại đến tiếp từ mạng xã hội (mà nói là mạng xã hội chung chung quá, đến từ những kết nối trên mạng xã hội). Quảng cáo tới từ SE và giờ quảng cáo cũng lại đến từ mạng xã hội. Hai làn sóng này đều điểm chung là khó lòng bắt người sử dụng cuối cùng có thể trả tiền được. Do vậy, quảng cáo vẫn là nguồn thu chính không thể phủ nhận. Thế nhưng, để có được tiền từ quảng cáo thì bạn phải đứng được trên đầu sóng. Bí quyết kiếm tiền từ trước tới nay thực ra rất đơn giản : mang lại lợi ích cho người trả tiền và làm người ta hài lòng với lợi ích đấy. Liệu có làm được không? Liệu có thuyết phục được các hãng lớn trả tiền quảng cáo cho bạn không? Rồi lại lao vào vòng xoáy luẩn quẩn phải có thật nhiều user, phải có thật nhiều traffic, trong khi chưa chắc traffic đó đã đủ nuôi nổi tiền duy trì server?

————————————————————

Forum ở Việt Nam vẫn sống tốt, sống dai. Tại sao lại thế? Tại vì bị cấm Facebook? Còn một đống các mạng xã hội khác cơ mà? Forum khác với mạng xã hội có lẽ ở chỗ bất cứ ai cũng có thể xuất hiện ở trên đó một cách vô danh và bất cứ ai cũng có thể xây dựng cho mình một hình ảnh mình muốn trước cả cộng đồng nếu đủ giỏi. Forum cũng thân thiện với Search Engine và có thể search được, không như Facebook. Forum cũng không ấn vào đầu bạn các thông tin kiểu như Anh A ngáp, chị B chuyển sang quan hệ phức tạp với anh C, anh C trồng được 3 củ su hào ở vườn (ảo) của anh ấy … Vô hình trung, khi thông tin (người sử dụng) không cần thiết trên mạng xã hội cần phải lọc bớt, Forum lại là chỗ tốt bởi vì nó đã được lọc sẵn các thông tin này. Forum cũng là chỗ tốt cho người Việt Nam khi muốn thảo luận nhưng lại không phải lúc nào cũng muốn lộ mặt.

Kết nối là cần thiết. Không cần phải có Facebook thì mới có kết nối, nhưng có Facebook thì mình kết nối được với nhiều người hơn. Kết nối với nhiều người hơn thì mình phải duy trì kết nối nhiều hơn, hoặc mình sẽ mất kết nối đó. Vậy nên mới thi thoảng lại thấy bạn bè quyết tâm xóa bớt kết nối đi, từ 2000 cố xuống 1000, rồi 1000 lại cố xuống 500 hay thậm chí là 100… Ống nước không có nước thì sẽ han rỉ thôi. Sản phẩm không mang lại giá trị thật cho người sử dụng mà lại làm người sử dụng phát mệt thì chắc rồi cũng sẽ han rỉ.

————————————————————

Không dám bàn về chuyện bong bóng sẽ diễn ra như thế nào, cũng không muốn bàn vì mình cũng là người trong ngành. Thế nhưng, nếu bạn không to, không khỏe bằng Facebook thì cũng nên xem lại các dấu hiệu đã từng có khi bong bóng dot-com xảy ra và tự so sánh tình trạng hiện tại của mình với các dấu hiệu đó. Rồi thì hãy chuẩn bị bút viết để điền vào tấm business card trống mà CJ Chilvers đã gợi ý. Khi chẳng may bong bóng có vỡ, lúc ấy đỡ phải in lại card-visit và chức danh của mình  :mrgreen: . Dù sao thì phát ra một tấm card tự tay viết cũng khó hơn là ấn vào nút Add friend chứ. Và nếu không thích phát card, bạn có thể đưa biz card trắng trơn ra và bảo, haiz, tôi để quên card ở nhà rồi. Như thế có phải là giống hơn với việc ngụp lặn vô danh trên Forum hay không?