Thắp sáng ý tưởng khởi nghiệp với Bootcamp 2011 (VYE)

Bài này các bạn VYE nhờ mình đăng do Baomoi.com cũng được hân hạnh làm speaker trong sự kiện này. Trước khi đăng nguyên văn lời giới thiệu của VYE về Bootcamp, cũng xin nhấn mạnh rằng chương trình Đào tạo Khởi nghiệp là một điều cần thiết cho bất cứ ai muốn tự mình khởi nghiệp. Khởi nghiệp là để nuôi đam mê, để biến đam mê của mình thành hành động, sản phẩm, dịch vụ … cung cấp giá trị cho người sử dụng. Thế nhưng, trong khi khởi nghiệp có rất nhiều thứ mình không lường trước tới  (ví dụ đơn giản nhất như là kế toán đơn giản, quản lý tiền …) có thể giết chết đam mê của mình. Vậy nên cần có kiến thức, kỹ năng về tất cả mọi khía cạnh khi làm startup để vượt qua tất cả những điều không lường trước này, để đam mê đi đến được tận cùng chứ không rồi gần đến đích thì chúng ta lại bỏ vì những điều chẳng liên quan gì tới sản phẩm của mình.

Đây là lời giới thiệu chung về Bootcamp 2011, tuy vậy bạn nên truy cập vào trang web của VYE để liên lạc và biết thêm chi tiết.

Với sứ mệnh chuyển giao kiến thức, kinh nghiệm và nguồn cảm hứng về khởi nghiệp từ Thung lũng Silicon (Hoa Kỳ) và khắp thế giới đến với sinh viên Việt Nam, Mạng lưới Khởi Nghiệp Trẻ Việt Nam (Viet Youth Entrepreneurs-VYE) đã hợp tác cùng Chương trình Đầu tư Công nghệ Đại học Stanford (STVP) tổ chức Chương trình Đào tạo Khởi Nghiệp Trẻ VYE 2011: Thắp Sáng (VYE Bootcamp 2011: Light Up).

Chương trình Đào tạo Khởi Nghiệp Trẻ VYE 2011: Thắp Sáng đồng thời được ghi nhận là Hội nghị Bàn tròn Mở rộng về Khởi nghiệp (REEx) đầu tiên tại Việt Nam, nhằm thúc đẩy sự trao đổi và hợp tác về giáo dục khởi nghiệp giữa các đơn vị giáo dục toàn cầu do STVP tổ chức thường niên.

Thắp Sáng là một khóa học chuyên sâu kéo dài 7 ngày (18/08/2011- 24/08/2011) dành cho các bạn trẻ Việt Nam đam mê khởi nghiệp và sắp vào đại học, đang học đại học, hoặc tốt nghiệp đại học chưa quá 1 năm.

Sau chương trình các bạn sẽ được cấp giấy chứng nhận tham gia khóa học với sự chứng nhận của Chương trình Đầu tư Công nghệ (STVP) tại ĐH Stanford. Các đội thắng cuộc sẽ có cơ hội tham gia cuộc thi Khởi Nghiệp quốc tế tại Singapore và ĐH Stanford. 

Giảng viên chính : Giáo sư Tom Kosnik hiện đang công tác tại Chương trình Đầu tư Công nghệ tại Đại học Stanford (STVP), là người sáng lập hoặc cố vấn cho nhiều dự án/công ty như Microsoft Co., Hewlett Packard Co., Novellus. Giáo sư Tom Kosnik từng giảng dạy chương trình Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh tại Đại học Harvard. Ông hoàn thành bằng cử nhân tại Đại học Duke, bằng Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh tại Đại học Virginia và bằng Tiến sĩ tại Đại học Stanford.

Giáo trình: Giáo sư Tom Kosnik sẽ giảng dạy giáo trình “Gear Up” (Sẵn sàng) – một trong những giáo trình đào tạo về khởi nghiệp phổ biến và nổi bật nhất tại Đại học Stanford.

Cấu trúc chương trình

  • Mười (10) bài giảng của Giáo sư Tom Kosnik: Mô hình doanh nghiệp, Xây dựng nhóm và ý tưởng, Quan hệ với khách hàng, Tiếp cận nhà đầu tư v.v.
  • Năm (05) Bàn tròn thảo luận: Cơ hội kinh doanh tại Việt Nam, Khi nào nên Khởi Nghiệp
  • Ba (03) Workshop: Cách xây dựng mối quan hệ, Xây dựng kế hoạch kinh doanh
  • Thử thách Khởi Nghiệp: Cơ hội tham gia cuộc thi Khởi Nghiệp tại ĐH Stanford và Singapore

Khách mời : Các khách mời sẽ trao đổi, chia sẻ và hướng dẫn sinh viên về khởi nghiệp thông qua các hoạt động phong phú của chương trình. Các khách mời bao gồm các chuyên gia kinh tế, chuyên gia giáo dục, đại diện quỹ đầu tư và các nhà khởi nghiệp thành công tại Việt Nam. Khách mời đến từ Việt Nam, Singapore và Hoa Kỳ. [Danh sách khách mời đầy đủ xem ở link này]

Đăng ký tham gia chương trình : Để trở thành 1 trong 100 bạn sinh viên xuất sắc được tham gia chương trình, bạn cần hoàn thành đơn đăng kí tham gia chương trình và CV/ resume rồi gửi về địa chỉ info@vye.vn trước 23h59 ngày 8/8/2011.

Chi phí đầu tư trong chương trình: nhiều nhất là 1,000,000 VNĐ, bao gồm chi phí giáo trình Gear Up, chi phí ăn, và chi phí di chuyển của người tham gia trong suốt chương trình.

Liên hệ: Mọi thắc mắc xin liên hệ info@vye.vn

Đâu là thuốc chữa cho bệnh dịch nghiện sử dụng chỉ số AVE?

Đợt này đang học hành chăm chỉ về media và các loại chỉ số, trong đó có một chỉ số là AVE rất khó hiểu (Advertising Value Equivalency). Khó hiểu vì giá trị của một bài PR được mặc định tính bằng 3 lần giá trị của quảng cáo trên diện tích in ra bài đó. Đại loại nếu bài PR chiếm nửa trang báo thì giá trị của bài đó sẽ bằng 1.5 trang báo nhưng đem bán quảng cáo.

Lược dịch bài này “AVEs are Disease – Here’s a Little Vaccine” dưới đây để xem các bạn debate và cứu chữa cái chỉ số có vẻ rất mơ hồ này như thế nào. Dịch sai chỗ nào, các bạn cứ chém chỗ đấy để mình còn biết mà sửa nhé.

Một trong những chỗ có thể coi là thực sự “xảo trá” trong việc đo đếm hiệu quả PR là việc sử dụng chỉ số AVE hay việc sử dụng giá trị quy đổi ra tiền của media để gán cho giá trị đem lại của bài PR. AVE thực sự là một trong những lỗ hổng dễ dàng bị công kích cho bất cứ ai đó cố gắng thử tính ROI cho hoạt động PR của mình dựa trên chỉ số này. Để làm cho mọi thứ tệ hại thêm, phép tính sơ hở trên lại tiếp tục được sử dụng trong việc đo đếm hiệu quả của Social Media. Ví dụ, một vài nghiên cứu khoa học đã cố gắng lượng hóa giá trị của các Fan trên Facebook Fan Page bằng cách quy giá trị của các Fan vào với giá trị CPM trong thế giới quảng cáo. Các bảng xếp hạng giá trị tác động của Online Media cũng cố gắng gắn cho online news và social media các đại lượng tiền bạc có giá trị tương ứng với giá phải bỏ ra để mua quảng cáo trên môi trường Online Media đó. Chỉ số AVE hay cách tính quy đổi nói chung kiểu này có thể được coi là một bệnh dịch lây lan ngày càng mạnh trong ngành PR.

Vào tháng 6 năm 2010, các chuyên gia PR từ khắp nơi đã nhóm họp tại Barcelona để soạn thảo ra Barcelona Principles, một tập hợp 7 nguyên tắc hữu ích cho toàn ngành PR để qua đó những người thực hiện PR có thể đo đếm được chính xác hơn giá trị mà mình mang lại. Một trong những nguyên tắc gây ra tranh cãi nhiều nhất trong hội thảo là nguyên tắc liên quan tới việc phủ định giá trị AVE dưới đây :

Advertising Value Equivalency (AVE) is Not the Value of Public Relations

Trong khi rất nhiều chuyên gia trong ngành đã công khai chống lại chỉ số AVEs từ rất nhiều năm một cách đơn độc thì nay cả thế giới dường như cũng đã bắt đầu quay lưng lại với chỉ số mù mờ này. Dưới đây là 4 lý do mà tác giả tin rằng chỉ số AVE sẽ biến mất trong thời gian tới :

1.AVE không đo đếm được kết quả thực tế 

Việc gán giá trị cho một bài viết tương đương với (ba lần) giá trị của diện tích quảng cáo tương ứng với diện tích bài viết đó không thể chỉ ra được giá trị đích thực và ảnh hưởng mà bài báo đó mang lại cho/với độc giả. Bản thân những người làm quảng cáo cũng không đánh giá hiệu quả của quảng cáo thông qua việc họ phải bỏ ra bao nhiêu tiền để quảng cáo cơ mà? Hãy tưởng tượng một ông chủ doanh nghiệp hỏi giám đốc Marketing “Này cậu, năm nay chúng ta quảng cáo có tốt không?” và giám đốc Marketing trả lời rằng “Thưa anh, tốt lắm. Tôi đã tiêu hết 500.000 USD của công ty” (chứ không phải là hiệu quả mà 500.000 USD đó mang lại cho doanh nghiệp). Liệu giám đốc Marketing này có bị đuổi việc không? Giá trị đích thực của PR hay Social Media không phải chi phí để bài viết liên quan tới doanh nghiệp xuất hiện mà phải là hiệu quả mà bài viết đó đem lại cho các thương hiệu của doanh nghiệp, đem lại cho hình ảnh của doanh nghiệp và giá trị của các bài viết đó trong việc hỗ trợ các hoạt động marketing. Barcelona Principles cũng cổ vũ cho việc tập trung đo đếm các kết quả thực sự đem lại và đấy mới phần chìm của tảng băng mà từ trước tới nay chúng ta đã bỏ mặc.

2.Chỉ số AVE làm giảm giá trị của quan hệ công chúng (AVEs Reduce Public Relations to Media Relations)

Bạn khó lòng nói rằng bạn có giá nếu giá trị đó không thể đo đếm được hoặc đo đếm sai. Chỉ số AVE không chỉ ra được hiệu quả của một vài phần quan trọng trong PR bao gồm các tư vấn về mặt chiến lược của chuyên gia, truyền thông khi khủng hoảng, các giá trị được kích hoạt và nhân rộng bởi cộng đồng (ví dụ các chiến dịch viral). Nói cách khác, AVE đơn giản hóa quan hệ cộng đồng xuống thành quan hệ với các nhà báo/phóng viên/chủ website… với những người nắm giữ media hơn là với cộng đồng thật sự. Khi cần xử lý khủng hoảng, một bài PR được đăng tải trên đúng môi trường (báo chí, forum, blog…) sẽ có giá trị hơn rất nhiều so với 3 lần giá trị bình thường bạn bỏ ra để mua bài viết đó.

3.Chỉ số AVE cản trở việc đo đếm tích hợp nhiều môi trường khác nhau (Integrated Measurement)

Các chiến dịch marketing, branding tốt thường không sử dụng một môi trường cố định mà là một vài môi trường, kênh thông tin kết hợp với nhau. Thời đại của Internet (làm đa dạng hóa môi trường truyền thông) lại càng là một trong những thời đại mà chúng ta cần sự tích hợp chặt chẽ nhiều hơn nữa. Quảng cáo và PR vẫn thường phối hợp chung với nhau trong các chiến dịch này và đây là lý do để chỉ số AVE được sử dụng như một sự thay thế khi quy đổi giá trị ra tiền. Các nghiên cứu chỉ ra rằng quảng cáo khi được đặt trong một cộng đồng có thiện cảm (với thương hiệu) sẽ có hiệu quả hơn trong khi quảng cáo đặt trong một cộng đồng thiếu thiện cảm sẽ khó mà thành công hoặc sẽ có tác dụng ngược với người tiêu dùng. Chúng ta cũng đã nhìn thấy rằng quảng cáo (online/offline) cũng tạo tác động tốt hơn và dẫn tới các tương tác hiệu quả hơn (conversion rates cao hơn/sale?) trong các kênh Social Media khi được chạy đồng thời cùng nhau. Các chiến dịch và chương trình tích hợp thì cần có bộ chỉ số đo đếm mang tính chất tích hợp nhưng chỉ số AVE lại không đáp ứng được điều này. Nói cách khác, AVE sẽ dễ dàng bị cô lập trong môi trường digital và môi trường tích hợp.

4.Chỉ số AVE không cung cấp bất cứ giá trị nào cho việc phân tích/chuẩn đoán.

Ngày nay, quá nhiều năng lượng đã được sử dụng cho việc giữ vững các loại chỉ số (và con số) chứ không phải để dùng cho việc phân tích/chuẩn đoán (chỉ nhìn nhiều về WHAT chứ không nhìn về WHY). Đó là một trong những lý do tại sao các chỉ số tổng hợp đơn lẻ (được tính gộp từ rất nhiều các chỉ số khác) như Klout lại trở nên có giá trị với nhiều người. Tuy vậy, điều cốt lõi của việc đo đếm không phải là để đưa ra các con số mà là để tìm hiểu xem doanh nghiệp có đạt được chỉ tiêu với số tiền mình đã bỏ ra hay không, đâu là điểm chưa đạt, đâu là điểm đã đạt (hãy quay lại với con số 500K USD ở phần 1). Sử dụng AVE rất dễ làm doanh nghiệp hiểu lầm và có thể đưa tới các kết quả khả quan giả tạo (về những gì mình đạt được trong khi chẳng có bất cứ ai đọc bài PR đó).Khi người ta bớt quan tâm tới việc độc giả có hiểu được thông điệp truyền thông của mình hay không, độc giả có nói về mình hay không thì AVE sẽ trở nên quan trọng. Thế nhưng, lúc đó cũng là lúc mà bạn sẽ chẳng phân tích và tìm hiểu được nhiều điều từ chiến dịch PR của mình (hoặc giả bạn cũng không cần phân tích!)

Một vài người nói rằng Barcelona Principes là “cái kết của AVE”. Tác giả đồng ý thẳng thắn với nhận định này với một chút bổ sung “đây sẽ là điểm khởi đầu cho cái kết của AVE”. Cần có nhiều hơn những nghiên cứu và những chuyên gia chỉ ra những khái niệm mới, có ích hơn là chỉ số mơ hồ AVE để người ta có thể xác định được chính xác hơn giá trị của PR và Social Media trong các cuộc trao đổi phức tạp đang diễn ra hàng ngày trên nhiều kênh/môi trường khác nhau. Nghiện sử dụng AVE là một căn bệnh không hề dễ chữa. Chỉ có bằng chứng thực tế mới là phương thuốc hữu hiệu cho căn bệnh này.

 

Sharing is more than caring…

Sáng nay mới có thời gian ngồi đọc bài “Thị trường Social Bookmark tại VN” của bạn @khaivq và thảo luận trên Link Hay. Bài viết có phần thống kê khá chi tiết về nút nhúng chia sẻ trên các website Việt Nam hiện nay và có lẽ là thống kê đầy đủ nhất từ trước tới nay về phần này mà mình được thấy. Nghĩ tác giả cũng không cần tặng hoa hay ném trứng thối mà cần thảo luận nhiều hơn nên viết blog để gạch ra mấy ý chính mình muốn phản hồi :

  • Có lẽ nên sử dụng Social News để thay thế cho Social Bookmarking, như vậy đúng với bản chất của các site hiện tại hơn. Mô hình Bookmark của Delicious có lẽ tới nay đã không còn phù hợp. Không chỉ đơn giản là chuyện socialize chức năng bookmark cho cá nhân mình, Social News giúp việc crowd-sourcing để tìm ra tin tức nổi bật nhất tốt hơn. Digg, Reddit, Mixx hay Linkhay đã “tiến hóa” từ Social Bookmarking Sites sang Social News. Facebook, Twitter, Zing Me xếp vào Social Bookmarking hay Social News cũng đều hơi cưỡng ép.
  • Đã không còn là chuyện bookmark cho bản thân mình mà là chuyện crowd-source thì yếu tố cộng đồng rất quan trọng và sự gắn kết trong cộng đồng lại càng quan trọng. Đính lại cái hình về Reach và Affinity ở đây. Reach cao mà Affinity kém thì cũng không ổn, nhất là để làm crowd-source. Yếu tố cộng đồng và văn hóa cộng đồng cũng giúp giải thích việc tại sao có những link share trên cộng đồng này thì được tặng hoa, share trên cộng đồng kia thì bị ném đá hoặc không được ủng hộ (như việc bạn @vietbio có than thở tại LinkHay).

Social Influence: reach vs affinity

(pix courtesy of Stefano Maggi – Under Creative Commons License)

  • Nhắc tới Làn sóng ngầm, nhớ tới Groundswell của Forrester. Càng trèo lên cao trong thang này, mức độ tương tác càng phức tạp. Đối với content ví dụ như của Baomoi.com thì đa phần vẫn là Spectator (chỉ xem, không làm gì hoặc thì thầm với nhau offline, chat, email), tiếp tới là Like (~ Spectator – tránh nghĩ rằng độc giả lười không ấn nút Like mà có thể do content không hay sao bắt người ta Like?), tiếp tới là comment hoặc share nhưng có comment riêng (~Critics + Conversationalists), cuối cùng mới là Creators – viết bài blog để đưa ý kiến của mình phản hồi lại bài báo. Chuyện đương nhiên cái gì dễ thì ai cũng làm, views là dễ nhất, like là dễ nhì, comment đã bắt đầu thấy khó rồi, share thì phải bài nào hay lắm mới share và nói lại ý trên là cũng phải hợp cộng đồng mới share, ko thì bài chả nổi lên hot, share mất công (<> bookmark là lưu lại cho bản thân).

  • So sánh chung site nào hơn site nào là tương đối khó. So sánh xem với góc nhìn của người làm marketing cho content thì site nào tốt hơn site nào sẽ dễ hơn và có thể cân đong đo đếm được hơn (tuy vậy cũng tùy xem chiến lược content của người đó ra sao, quan hệ – affinity của người đó trong cộng đồng thế nào …) Vậy nên mới có rất nhiều người nói “Content is King, Context is God” là vậy. Tuy nhiên cũng nên để ý cái thang một chút. FB nó hơn các bạn khác như Zing Me/Twitter/G+ … vì nó có cả Like lẫn Share, nôm na là nó phủ được hai bậc thang, trong khi các bạn chỉ có một bậc (để có bậc Thích/Fav ~ Like thì mình phải vào tận site nhà các bạn chứ không đính lên site nhà mình được)
  • Hồi xưa mọi người cũng hay nói, Sharing is Caring. Mình cho rằng Sharing mà giật lại title hay ho (thường hay gặp trên LinkHay) hoặc đưa ý kiến cá nhân của mình (thường hay gặp trên Twitter/Facebook) cũng là Creating, là sáng tạo thêm và mấp mé ở mức Creator rồi.
  • Vậy, kết luận nếu với góc nhìn của một Marketer, mình đương nhiên sẽ cố gắng đặt hết tất cả các nút share lên site của mình nhưng cũng quan tâm tới việc content đó hợp với site nào mà cụ thể văn hóa cộng đồng ở site đó như thế nào, làm sao để tăng affinity trong cộng đồng (còn tăng reach thì đương nhiên ai cũng cố làm rồi, nhưng reach theo kiểu tôi có Fan Page 100K thành viên nhưng tôi post cái gì lên cũng chẳng có ai phản hồi cả thì tăng cũng không được bao nhiêu hiệu quả). Đương nhiên, mình cũng chấp nhận rằng share, comment là những tương tác ở mức cao nên nếu content của mình không tốt thì dù có nhúng cả 20 nút share của các site khác nhau cũng không ăn thua gì. Mình cũng sẽ có chiến lược riêng cho từng site khác nhau, không lẫn lộn giữa Social News (giống LinkHay, tin hot thì gần như toàn thiên hạ đều nhìn thấy) và SNS (tin mình post chỉ bạn mình/fan mình thấy) và cố gắng sao nếu content được share trên cả Social News lẫn SNS thì là mừng nhất.

 

6 quy tắc để nhân cách hóa (humanize) thương hiệu của bạn

Có khá nhiều ý kiến cho rằng mục tiêu tấn công của Google+ thực sự là Twitter chứ không phải là Facebook để qua đó chiếm lấy vị trí (ít nhất là) thứ 2 trong cuộc chiến về mạng xã hội. Còn hơi sớm để nói về Google+ bởi mạng xã hội này ít ra cũng vừa mới ra đời, đạt được 10 triệu người dùng sau 2 tuần ra mắt và vẫn còn rất nhiều vũ khí bí mật chưa ra mắt (ví dụ profile dành riêng cho doanh nghiệp…)

Trong khi đó, Twitter cũng đã ra đời từ năm 2006 (tới nay được 5 năm) và vẫn chưa rõ mình sẽ kiếm tiền theo cách nào ngoài việc quảng cáo qua những câu Twit (người dùng tự quảng cáo hoặc đặt qua dạng sponsor). Lật ngược lại câu hỏi, Twitter cung cấp khả năng đó nhưng liệu nó có thật sự có ích với người quản lý thương hiệu hay không, Douglas O’Donnell đã có một bài blog mang tên “Twitter Works, but Is It Working for Your Brand?” Điểm quan trọng nhất trong bài viết này có lẽ là 6 quy tắc để nhân cách hóa thương hiệu, những quy tắc hoàn toàn có thể áp dụng được cho bất cứ mạng xã hội nói chung nào chứ không phải chỉ riêng Twitter.

6 Rules of Humanizing Your Brand

  1. Be human and humble (this should come naturally).
  2. Follow the 80% (value add content)/20% (marketing) rule.
  3. Establish Twitter-specific objectives, strategy, and measurement, and optimize.
  4. Seek out your advocates and follow them first; don’t make them find you.
  5. Interact with customers, like you would with a friend in a coffee shop.
  6. Be relevant to their interests, be available to address their needs, and embrace negative comments as opportunities.

(Bonus rule: Fire your legal and editorial departments–unless they are solution biased.)

Cá nhân mình cũng áp dụng các quy tắc này (trừ quy tắc số 3 chưa có được một chiến lược thực sự rõ ràng) và thấy rằng rõ ràng người sử dụng luôn muốn nói chuyện với một con người – chứ không phải một cái máy.

Douglas O’Donnell cũng chỉ ra điểm khác biệt cơ bản giữa Twitter và Facebook, một điểm khác biệt chắc chắn khiến người quản trị thương hiệu rất nhọc. Đó là việc Twitter tập trung vào các cuộc đối thoại, càng tức thời bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Khách hàng hỏi, doanh nghiệp trả lời nhanh, khách hàng sướng. Khách hàng không hỏi nhưng doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng thông tin nhanh thì khách hàng cũng sướng. Một điều thú vị khác mà Douglas O’Donnell cũng mang lại là sự so sánh giữa Community Manager của Twitter và Facebook :

A community manager on Facebook will have a planned strategy, a content calendar, and some guidance on occasional real-time interactions. A community manager on Twitter should be on call, like a doctor.

Ngoài quy tắc số 3 thì có lẽ quy tắc số 6 (Be relevant to their interests, be available to address their needs, and embrace negative comments as opportunities.) cũng là một trong những quy tắc khó và gây cản trở lớn trong quá trình “nhân cách hóa” thương hiệu. Để làm tốt quy tắc này, người quản trị thương hiệu cần bỏ thời gian ra nghiên cứu cộng đồng những người follow mình, qua đó áp dụng quy tắc số 2, số 5 (đương nhiên là cả số 1) cho tốt. Không phải ai cũng có thời gian để làm việc này tốt bởi cũng như bạn bè, bạn không thể hiểu họ qua ngày một ngày hai mà cần cả quá trình lâu dài. Thêm nữa, hiểu được 1-2 người bạn thì dễ chứ hiểu được 1000-2000 rồi 1 triệu – 2 triệu người thì quả là điều không thể.

Twitter và Facebook đã tạo ra những ranh giới tương đối rõ rệt, vậy thì khi mà Google Plus sử dụng cái hay của cả hai để tạo ra sản phẩm cho riêng mình thì thực sự là … khó nói. Khó nói bởi nhiều khi nhiều cái hay quá đứng cùng với nhau chưa chắc đã hay. Trong lúc chờ đợi xem Google Plus tiếp tục phát triển ra sao, có lẽ hãy cứ làm tốt với các account liên quan tới thương hiệu của mình trên Facebook và Twitter đã.

Giá trị của user thay đổi khi môi trường truyền thông thay đổi

Mấy hôm nay có thấy hai cái Infographic khá hay : “The history of Networks” và “What is the network effect? The value of users explained“.  Để nói tới giá trị của user và giá trị của network (mà user nằm trong đó) thì cần phải đi lại một lượt về lịch sử của truyền thông (xem Infographic đầu tiên).

Sarnoff's Law

Năm 1928, David Sarnoff thành lập NBC (National Broadcasting Company) tại Mỹ và sau đó là trở thành người quản lý của RCA (Radio Corporation of America). Quy luật của Sarnoff (Sarnoff’s law) đương nhiên cũng được áp dụng đặt trong bối cảnh giữa người nghe và trạm phát radio. Vì đây là quan hệ 1-nhiều nên một trạm phát có 100 người nghe sẽ có giá trị gấp 10 lần so với một trạm phát có 10 người nghe. Người nghe trong trường hợp này cũng không liên lạc được trực tiếp với nhau.

Metcalfe's Law

Quy luật Metcalfe gắn với tên của Robert Metcalfe, người sáng lập ra Ethernet (năm 1976) và đồng sáng lập 3Com. Trong một mạng có kết nối hai chiều giữa người sử dụng (chứ không phải quan hệ một chiều như trạm phát radio – người nghe) thì giá trị của network sẽ tỷ lệ thuận với bình phương của số người sử dụng. Nói cách khác, mạng điện thoại và các mạng cung cấp các kết nối Internet đơn giản như email khi có 100 thành viên sẽ có giá trị gấp 25 lần so với mạng cùng loại nhưng chỉ có 20 thành viên.

Reed's Law

Quy luật Reed gắn với tên của David P.Reed (cũng xuất phát từ MIT giống Metcalfe). Quy luật này còn được gọi là “The Law of Pack” và được sử dụng cho các mạng xã hội ngày nay. Quy luật này nói rằng một network trong đó các thành viên có thể tạo ra các nhóm (group) bất kỳ tương tác với nhau có 100 thành viên sẽ có giá trị hơn 290 lần so với một mạng tương tự có 10 thành viên.

Một user tùy thuộc vào từng loại network và cách mà user đó có thể kết nối với các user khác để tạo ra giá trị chung cho network. Một mạng xã hội được quản lý chặt chẽ bởi nhà nước hoặc các tổ chức quản lý chỉ chăm chú truyền tải thông tin một chiều thì vẫn sẽ chỉ dừng lại ở quy luật Sarnoff mà không tận dụng hết giá trị của network như trong quy luật Reed khi số lượng thành viên tham gia tăng lên.

Một ví dụ khác dành cho sự thay đổi giá trị của user khi thay đổi network là Trang Vàng (Yellow Pages). Trang Vàng trong các cuốn danh bạ điện thoại (bản in giấy) chỉ có tác dụng thông tin một chiều, Trang Vàng + điện thoại sẽ mang lại giá trị như quy luật Metcalfe còn mô hình Trang Vàng mở rộng trên Internet như Yelp hay Thổ Địa cung cấp cho người sử dụng nhiều thông tin hơn và ngược lại, thông tin của người sử dụng cũng được coi trọng và có sức mạnh nhiều hơn.

Giá trị của user đã thay đổi khi họ tham gia vào những mạng xã hội. Vậy tại sao cứ bấu víu lấy những quy luật quảng cáo cũ – 1 chiều và vô tình – đánh giá thấp sức mạnh của user. Đến bao giờ marketer mới thực sự lắng nghe user?

“Cheap social media makes marketers lazy”

The former Thomas Cook and Post Office marketer says: “Junior brand managers think social media is a great way of getting their message out to a wider audience at virtually no cost.”

“The problem is that it’s cheap churn and too often, the stuff we as marketers are taught in the classroom about targeting; about the right message; about good creative and the proposition and so on, are forgotten.”

Can’t agree more! Can’t add and take any word!

(src : http://www.marketingweek.co.uk)