My thoughts on Mobile News in Vietnam

(click to enlarge)

Tự do nằm co trong cái máng lợn

Bài này muốn nói về sáng tạo, mà thực ra là chép lại những gì người ta nói về sáng tạo vì trong 1 tuần này đọc lướt qua mấy chỗ đều thấy có một pattern giống hệt nhau.

Đầu tiên là bài viết “Creative Constraint: Why Tighter Boundaries Propel Greater Results“, cái tên của bài viết đã nói lên tất cả rồi. Có vài câu cần note lại trong đống chữ này :

As Dave Gray commented on his blog, “Creativity is driven by constraints. When we have limited resources — even when the limits are artificial — creative thinking is enhanced. That’s because the fewer resources you have, the more you are forced to rely on your ingenuity.”

Good improvisation also follows unspoken rules: You must accept all contributions, you must justify anything that’s introduced on stage, and everyone must participate. Yet by adhering to these boundaries, improvisers know they can be wildly creative in all other ways.

“Highly creative adults frequently grew up with hardship. Hardship by itself doesn’t lead to creativity, but it does force kids to become more flexible — and flexibility helps with creativity.”

Trong cuốn The 4-Hour Work Week của Tim Ferris (cuốn sách lúc đầu mình không muốn đọc vì nghĩ nó giống các cuốn self-help, tuy nhiên khi đọc thấy rất thực tế), Tim có nêu hai định luật. Định luật Pareto về 80/20 thì hầu như ai cũng biết. Cái hay của Tim là tiếp sau Pareto, Tim nói về Parkinson Law. Cơ bản thì định luật này nêu ra rằng, nếu có một việc quan trọng mà bạn chỉ có 24h để làm nó, kiểu gì bạn cũng sẽ làm xong. Nếu cùng việc đó mà bạn có 7 ngày để làm thì 6 ngày đầu, bạn cũng sẽ dùng nó để đặt ra thêm các chướng ngại vật cho bạn trước khi bạn dành 24h cuối cùng để giải quyết nó. Nếu bạn có 2 tháng thì có nghĩa bạn lại càng có thêm thời gian để đặt chướng ngại vật cho mình, thay vì giải quyết việc.

Đến đó, Tim đưa ra hai kết luận :

  1. Để rút ngắn thời gian làm việc, chỉ làm những việc thực sự quan trọng và giúp ích được nhiều cho mình (80/20)
  2. Rút ngắn thời gian làm từng task một để đẩy mức độ quan trọng của task đó lên cao hơn (Parkinson)

Cuối cùng là quả thực Tim đã làm được rất nhiều thứ, nhìn cái list mình quá nể phục!

Môt quyển khác, Making Ideas Happen của một bạn founder của Behance(.net). Cuốn này mua trước khi Tiki tăng giá sách do USD tăng ( 8-O). Cuốn này mới chỉ đọc qua phần đề mục và chương đầu, tuy nhiên cũng có thể rút ra được cái tác giả muốn nói chính là câu mà tác giả in to vật ở bìa sách “Ideas are worthless if you can’t make them happen”. Mà muốn make nó happen thì phải đưa Idea vào một hệ thống, một framework để thúc đẩy nó có thể happen được. Sau đó, phải follow framework này một cách chặt chẽ và có kỷ luật.

Trưa nay đọc cuốn Starting Photography của Michael Langford. Mình paste luôn đoạn này ra đây (ngay trang 1 – chương 1) để thấy muốn chụp ảnh được thì cần nhận thức rằng mắt mình không có edge (đường biên), còn ảnh thì là hình chữ nhật, có biên dọc, biên ngang. Túm lại là phải nhận thức rằng mình đang sáng tạo bên trong cái đường biên, nếu muốn chụp ảnh. (click để phóng to).

Có cái chuyện là cả lớp thi xem ai gấp máy bay bay nhanh nhất. Cuối cùng người thắng cuộc là người vo tròn tờ giấy và ném từ cuối lớp lên đầu lớp. Nghe truyện này xong mình nghĩ 90% không phục. Mình thì phục. Vấn đề là bạn ấy biết cái giới hạn của mình, biết cái máng lợn của mình để mà nằm co cho khéo. Còn tất nhiên, nếu đề bài là gấp máy bay vừa đẹp vừa bay nhanh thì đấy lại là cái máng lợn khác. Nếu cứ đi tìm cái giường thơm tho cái nệm ấm, chắc lại giống như nhà văn đợi bao giờ hết ruồi mới viết của ông Aziz Nesin mà thôi.

Từ “bán dạo” đi tới Groupon

Sau khi đọc bài viết khá thuyết phục của Tú Đỗ về Groupon, mình dường như không biết viết gì hơn vì không làm mô hình này, những gì suy nghĩ thì cũng chỉ là suy nghĩ và cũng viết hết ra rồi. Tuy nhiên, cái câu hỏi thế Groupon là một kênh marketing hay một kênh sale vẫn cứ dai dẳng nằm trong đầu mình, thế nên hôm nay lại viết thêm bài nữa để trả lời cho câu hỏi “Liệu Groupon có thể coi/gán ghép như là một mô hình direct-marketing kiểu mới hay không?

Khái niệm direct-marketing là một khái niệm khá thú vị mà chắc chắn với tầm hiểu biết của mình cũng như trong một bài viết ngắn thì không thể trình bày cho hết được. Mình tóm lại lịch sử của Direct-Marketing bằng vài cái gạch đầu dòng như sau :

  • Thế kỷ XIV, những người bán dạo đã chở đồ đạc đi khắp châu Âu để bán hàng. Lúc này phương tiện di chuyển khó khăn, phương tiện liên lạc khó khăn, thuế đối với những người không có cửa hàng ít hơn so với người có cửa hàng. Mặt hàng được bán lúc này ít nên người bán dạo có thể mang hàng mẫu trong túi của mình để cho người mua xem.
  • Máy in trên thực tế đã được người Trung Quốc phát minh từ thế kỷ thứ VI, tuy nhiên vào thế kỷ XV khi Gutenberg phát minh ra máy in công nghiệp thì in ấn mới phổ biến hơn. Đi liền với chuyện này thì catalog hàng hóa bắt đầu được in ra và được phổ biến ở thế kỷ XVII, XVIII cho tới tận bây giờ. Cho tới lúc này thì phương tiện di chuyển vẫn chưa phát triển hơn.
  • Vào thế kỷ XIX, XX thì mới bắt đầu nở rộ việc mua hàng qua bưu điện (Mail-order). Phương thức này từng được gọi là “eliminate the middle-man” và các hãng sản xuất có thể bán hàng trực tiếp thông qua việc gửi catalog cho khách hàng, khách hàng order qua bưu điện và hãng gửi lại hàng cho khách hàng.

Tạm dừng ở đây một chút. Có hai vấn đề nhỏ cần nói nhanh ở đây. Vấn đề thứ nhất là có thật sự “eliminate the middle-man” hay không? Có vẻ như là không vì không chỉ các hãng sản xuất mà cả các nhà phân phối bán buôn cũng sử dụng hình thức quảng bá và bán hàng này (như vậy lúc đó nhà phân phối bán buôn chính là middle-man của các hãng sản xuất). Điểm thứ hai là catalog khi có sự xuất hiện của Internet được biến thiên từ bản in (trên giấy) sang email, website … và chuyển dần từ Push (gửi hú họa/gửi có chọn lọc db nhưng vẫn dựa trên sự phỏng đoán giả định về nhu cầu khách hàng) tới Pull (khách hàng tự vào xem catalog online và tự quyết định việc mình sẽ order gì). Do vậy, thu thập database khách hàng và việc mining db khách hàng/thói quen mua hàng là rất quan trọng với hình thức marketing này.

Câu hỏi thường thấy là hình thức direct-marketing này có phải là marketing thực sự hay không? Có, câu trả lời là có. Có nghiên cứu nhu cầu khách hàng, có bán hàng tạo ra lợi nhuận, có hậu mãi, có chú trọng tới việc tăng độ trung thành của khách hàng … Túm lại là giống các hình thức marketing khác, chỉ có điều là sử dụng các kỹ thuật khác nhau mà thôi.

Khi Groupon giải phóng vấn đề xoay vòng mặt hàng bằng cách cho phép người bán hàng có thể tự tạo ra một store gần giống Facebook Pages, cho phép người mua follow để theo dõi thông tin bán hàng và người bán hàng tự đăng tải các deal của mình, bất chợt mình thấy Groupon giống người bán dạo ở thế kỷ XIV. Chỉ khác ở chỗ nó hiện đại hơn, công nghệ cao hơn. Còn lại thì thay vì việc người sử dụng ngồi ở nhà để chờ người bán dạo đi qua và đưa ra các mặt hàng, ngày nay người sử dụng cũng ngồi (ở nhà, ở công ty, ở quán cf…) trước màn hình máy tính/mobile device để đợi chờ người bán đưa hàng (giảm giá + phù hợp với vị trí địa lý) lên store của mình trên Groupon và các website tương tự.

Từ một môi trường thiếu thốn thông tin, thiếu thốn hàng hóa, phương tiện di chuyển khó khăn cho tới một môi trường thừa mứa thông tin, dư thừa hàng hóa, di chuyển tương đối dễ dàng, vậy cái gì làm người mua lại quay trở lại thói quen của những người ở cách họ 6-7 thế kỷ?

TIỀN? GIẢM GIÁ?

Mình chưa thể tìm ra một lý do nào tốt hơn lý do về Tiền. Direct Marketing hiện đại sử dụng vào việc phân tích dữ liệu và hành vi mua sắm của khách hàng khá nhiều để gửi offer cho khách hàng, nhưng Groupon thì đưa ra offer chỉ có lợi về giá chứ chưa chắc đã sát với nhu cầu của khách hàng (dẫn tới tâm lý tiêu xài quá đà của khách hàng khi mua những mặt hàng rẻ và mình thích nhưng thực sự không cần thiết với họ).

Thế nhưng lợi thế về Tiền lại không phải là lợi thế lâu bền. Không lâu bền ở nhiều chỗ và cái này mọi người cũng đã nói nhiều về mô hình Groupon, ví dụ không thể cái nào cũng giảm giá được (dễ bị đánh giá thấp giá trị mặt hàng, khách hàng chỉ mua vì giá chứ không mua vì thương hiệu/chất lượng -> không trung thành). Cũng chính theo một nghiên cứu của Rice University được đăng tải trên DirectMarketingNewsWire, mô hình Groupon (hiện tại) đang mang lại lợi ích cho người tiêu dùng nhiều hơn là cho doanh nghiệp. Nghiên cứu này đưa ra con số % doanh nghiệp hài lòng khi sử dụng Groupon thấp hơn nhiều so với con số mà Groupon tự đưa ra. ToMuse cũng đưa ra 10 lý do khá hay về việc tại sao doanh nghiệp không nên sử dụng Groupon (trong đó ý về việc brand dilution được mình nhắc tới ở trên là học ở đây ra).

Tất cả những điều này mù mờ cho thấy rằng mô hình Groupon sẽ còn thay đổi rất nhiều và rất nhanh. Đây cũng là một case thú vị để tiếp tục theo dõi, nhất là khi mô hình có thay đổi và có nhiều người chơi (player) hơn nữa tham gia cuộc chơi này (ví dụ như các mạng xã hội…)

Mấy câu hỏi nhỏ về mô hình Groupon

Nói chung là mình không có hiểu biết gì về thương mại điện tử. Đặc biệt là trừ account Flickr, Rapidshare, vé máy bay và một (mới chỉ một) cuốn sách của Tiki.vn thì mình chưa mua bán hay tham gia bất cứ hoạt động thương mại điện tử nào. Kể cả mấy cái trên thì cũng là do bắt buộc phải mua qua mạng chứ nếu không mình vẫn thích mua cái gì mà … sờ được hơn. Tuy nhiên với bạn Groupon thì phải suy nghĩ (ác liệt) vì bạn là công ty đạt được doanh thu (sale) 1 tỷ USD nhanh nhất. Bằng cách mua nhiều và giảm giá. Và đặc biệt là theo bạn TrangNEU thì tất cả mọi người năm ngoái đều nói về SNS, năm nay thì nói về thương mại điện tử. Rồi các công ty theo mô hình này ở VN ùn ùn xuất hiện (muachung,phagia…) Thế nên mình cũng adua, không biết cũng nói cho nó có phong trào. Chả phải Groupon là mua theo phong trào hay sao :D .

Câu hỏi 1 : Vào đó là để mua đồ giảm giá. Vậy giảm đến bao nhiêu thì không bị coi là mất giá trị (devaluated)? Thường thì một mặt hàng đang giá cao mà giảm nhiều thì rất dễ bị “nghi ngờ” là mất giá trị. Quần áo cũng vậy, hết mùa thì sale nhưng nếu sang năm mà bạn mặc quần áo của năm nay rồi có người hỏi bạn là “mua đồ sale à?”, thể nào cũng có lúc bạn xấu hổ.

Câu hỏi phụ : Làm thế nào để vực lại giá trị khi giảm giá quá nhiều? Nếu như bày ở ngoài hàng mà giảm đến 90% thì sẽ bị ít nhiều coi là mất giá trị. Bày trên web liệu có cách nào làm cho nó long lanh hơn không?

Câu hỏi 2 : Đây là câu hỏi chính yếu khi nghĩ về mô hình này. Vậy, mô hình mua theo nhóm sẽ là một kênh bán hàng mới hay là một kênh marketing mới? Bạn sẽ lầm bầm là bán được 1B USD thì tất nhiên là kênh bán hàng rồi, thế mà cũng hỏi. Tuy nhiên kể cả 1B cũng không phải chỉ bán một mặt hàng mà chia ra làm nhiều mặt hàng. Bạn không thể nói bạn định giá mặt hàng A của bạn là 1 triệu đồng, trong khi bạn sản xuất ra 100 sản phẩm A và tất cả đều bán với giá 1 trăm ngàn đồng được. 10 sản phẩm bán 1 trăm ngàn đồng, 10 sản phẩm bán 5 trăm ngàn đồng, còn lại bán 1 triệu đồng thì mới có lý khi nói định giá mặt hàng là 1 triệu đồng. Nếu nhìn qua thì thấy đa phần các mặt hàng được bán theo mô hình mua theo nhóm đều bán với số lượng ít (<100 món/lần) – đa phần chứ không phải tất cả nhé.

Nếu chỉ bán số lượng ít như vậy, bạn có thể trông mong gì vào doanh thu? Chắc là không vì lãi ít nhân với số lượng nhiều thì mới bù được lãi nhiều nhân với số lượng ít, chứ lãi ít nhân với số lượng ít thì bù sao được? Vậy bạn tham gia làm gì? Để marketing (quảng bá, PR, tạo viral – WOM, tiếp cận thị trường mới …)

Ranh giới giữa kênh bán hàng và kênh marketing trong trường hợp này là gì?

Câu hỏi 3: Tại sao tôi không tự làm lấy mô hình này (bán giảm giá theo nhóm) mà lại phải đưa mặt hàng của tôi lên website của bạn(groupon, muachung,phagia…)? Quay lại câu hỏi về ranh giới giữa kênh bán hàng và kênh marketing. Thực ra, Adidas cũng đã từng tự làm với FreeStripes (.com, nhưng chả hiểu tại sao giờ vào đó đã redirect về lại Adidas), Dell cũng tự làm với Dell Swarm. Câu trả lời có lẽ dễ thấy là những hãng này đều có cộng đồng khách hàng lớn và mục tiêu bán giảm giá theo nhóm của họ có thể sẽ khác với việc bán giảm giá trên các site như groupon. Thêm nữa, những mặt hàng họ bán là những mặt hàng thật (touchable, không phải dịch vụ) nên đây có thể là một cách làm để “thưởng”, “động viên” cho cộng đồng khách hàng sẵn có, dùng lượng khách hàng “hạnh phúc” này để PR cho mình.

Câu hỏi phụ : Lúc nào thì doanh nghiệp nên tự làm, lúc nào doanh nghiệp nên đưa hàng lên website mua hàng theo nhóm?

Câu hỏi 4 : Mặt hàng nào thì phù hợp để bán theo kiểu này? Bạn Sơn Tiki đã có câu trả lời cho mình (và mình thấy đúng) là các mặt hàng liên quan tới dịch vụ (dễ giảm giá) thì phù hợp hơn. Ví dụ ở đây có một thống kê của các mặt hàng bán được tại Trung Quốc.

(click vào hình để phóng to)

Có thể thấy các mặt hàng tiêu dùng nhanh dường như chưa phải là đối tượng thích hợp cho hình thức này. Vậy câu hỏi phụ sẽ là “Làm thế nào để các mặt hàng FMCG có thể áp dụng được mô  hình bán theo nhóm?

Câu hỏi 5 : Mô hình này là một mô hình tốt để “địa phương hóa” (Localize). Kết hợp nó thế nào với các công cụ địa điểm (kiểu như Foursquare), với các trang vàng kiểu mới? Cái này hỏi nhưng có khi bạn Diadiem.com với Muachung.com đã làm xong rồi ấy chứ ^^

Câu hỏi phụ : Địa phương hóa cho tốt thì người mua phải có đầy đủ thông tin. Đến bao giờ sẽ có app trên mobile, facebook… để tổng hợp và filter thông tin về các mặt hàng giảm giá? Cái này hỏi nhưng có khi bạn Diadiem.com cũng có mất rồi luôn ^^

Location – một layer mới của Social Graph

Ngày hôm trước khi đứng ở cổng một quán bar trên đường (e hèm, giờ vẫn không nhớ rõ tên là đường gì), cứ cho là đường X nằm ở quận 1 (Sài Gòn) để gọi taxi, tôi chợt nghĩ rằng giá mà cuộc gọi của mình có thể nói luôn cho tổng đài taxi biết rằng mình đang ở đâu thì tốt. Hoặc giả là mình có thể gửi một tin nhắn mà trong đó tin nhắn có chứa luôn vị trí chính xác của mình thì tốt quá. Jishan có gợi ý rằng có thể dùng Twit hoặc FB bởi vì “chúng nó” đều đã có gắn vị trí địa lý ở trên đó. Thế nhưng giải pháp này có vẻ hơi geeky quá thì phải. Dù sao thì mong muốn của tôi khi đứng ở một chỗ mình không thân quen mà gọi taxi là có thể có cách nào đó nói cho tổng đài biết chính xác mình đang ở đâu một cách dễ dàng và tự động.

Chaotic Baguio

Tuần trước cũng mới đọc một bài viết có tên “Location is Now Part of the Social Graph“. Cá nhân tôi cho rằng có lẽ nên dùng chữ “layer” thì rõ hơn. Và sẽ không chỉ dừng lại ở layer này. Còn tại sao gọi nó là “layer”? Bởi vì bạn có thể cắt hẳn một lát chuyên về Location trong Social Graph mà vẫn đáp ứng được đầy đủ tính chất của Social Graph “the global mapping of everybody and how they’re related”.

Bản thân hệ thống vị trí địa lý là một hệ thống tương đối cổ xưa. Từ thời xưa ai cũng đã có một địa chỉ để liên lạc, để gửi thư. Qua đó thì dần dần thư quảng cáo cũng theo các hệ thống địa chỉ này mà “tấn công” con người. Thời nay người ta cũng cho rằng Location sẽ cung cấp cho người ta khả năng bắn tin quảng cáo theo vị trí địa lý (giống như chuyện bạn đi tới một khu vực phường Y quận Z và sẽ nhận được một thông báo qua SMS/FB/Twitter hoặc cái gì khác nói rằng quán bia ở gần đó đang có giảm giá 10% vậy). Tuy nhiên đây chắc chắn không phải là phương thức hay ho vì bất cứ cái gì Spam cũng chẳng hay ho. Nó chỉ hay ho khi người ta muốn nhận nó. Vì vậy, vấn đề Privacy chắc chắn là một vấn đề cực kỳ nhạy cảm với Layer mới mà cũ này. Nếu không chú ý vấn đề này, rồi chắc chắn tới một lúc bạn sẽ cảm giác rằng lúc nào cũng có một quả tên lửa đang treo trên đầu mình và cho dù mình đi tới đâu thì nó cũng có thể …boom cho mình một cú vào lúc mình không để ý.

Điều mà tôi mong muốn ở Layer này không phải là khả năng check in (chỉ để nhận badge như Foursquare đang làm hoặc tốt hơn một chút là nhận được khuyến mại nếu check in nhiều lần), cũng không phải (mà là nhiều hơn) những gì Groupon đang cung cấp. Nếu coi rằng việc di chuyển từ điểm này sang điểm kia là một bước chuyển trạng thái thì Layer mới liên quan tới vị trí địa lý phải có khả năng cung cấp cho tôi những thông tin tốt nhất để phục vụ cho bước chuyển trạng thái này. Và có nghĩa rằng nó phải có khả năng đoán định, khuyến cáo cho tương lai (gần) chứ không phải là việc cung cấp thông tin về địa điểm mà hiện tại tôi (đã) đang ở đó.

Ví dụ nhé :

- Nếu đi du lịch, tôi phải biết được thông tin về địa điểm sắp tới, kiểu như thời tiết, local news (có bắn giết nhau không), thời gian nào là lúc chụp ảnh tốt nhất, địa điểm nào là nơi có thể chụp ảnh được tốt nhất.

- Nếu di chuyển trên đường, khả năng đi vào đường này sẽ bị tắc là bao nhiêu %, nếu đi xe ga thì có gặp ngập sâu tới mức chết máy hay khong.

- Nếu chuẩn bị đi mua sắm, siêu thị tôi sắp bước vào có đang bị quá tải khi thanh toán hay không …

Còn rất nhiều ví dụ kiểu vậy. Social Graph đứng không thì chẳng giải quyết được gì, nó giống như ống dẫn dầu mà không có dầu chảy qua thì cũng phí. Thế nhưng cách tiếp cận theo kiểu phục vụ cho “quá khứ” bây giờ dường như không ổn. Dù sao vẫn đặt cược rằng sự bùng nổ trong năm 2011 chắc chắn sẽ liên quan tới Location-based app, SNS… nhất là khi các thiết bị cầm tay ngày càng hỗ trợ tốt cho Layer này.

Bong bóng Social Media – điều chẳng mới

Sáng dậy đọc được một bài dịch khá hay trên Tuần Việt Nam với link gốc tiếng Anh mang tựa đề “The Social Media Bubble“. Tác giả đưa ra một thuật ngữ khá hay là “Lạm phát các mối quan hệ” – Relationship inflation. Lạm phát theo kiến thức sơ đẳng của tôi về kinh tế thì luôn đồng nghĩa với sự mất giá. 10 đồng trước mua được 10 cái kẹo lạc thì nay chỉ mua được 7 cái, có khi hôm sau lại chỉ mua được 3 cái nữa thôi. Vậy là mối quan hệ sẽ bị mất giá? Vậy giá trị của mối quan hệ đến từ đâu?

—————————————————————

Trước hết, hay quay trở lại với thống kê, với con số Dunbar. Như đã từng viết blog một lần vào hồi tháng 10 năm ngoái, số Dunbar là số lượng bạn bè mà bạn có thể duy trì quan hệ hai chiều một cách ổn định và thường xuyên. Trung bình thì một người châu Á có thể duy trì quan hệ với 107 người và Việt Nam thì ở mức thấp hơn : 80 người. Những mạng xã hội như Y!360, Facebook và người tiền nhiệm vẫn còn sống khỏe trước đó của nó là Forum đã làm rất tốt việc tăng số Dunbar Number này lên. Hãy nhìn bảng thống kê ở dưới đây và bạn sẽ thấy nó có tận 3 phần : bạn offline, bạn online và bạn thân. Số lượng bạn thân thường chỉ chiếm 10% số lượng bạn bè mà bạn có.

—————————————————————

Trong bài viết của mình, Umair Haque cho rằng các mối quan hệ thực là các mối quan hệ được đầu tư hai chiều. Tiền bạc, thời gian, sự chăm sóc… Mối quan hệ của Social Media (và thực sự phải là Social Graph) không phải là mối quan hệ thực vì nó không được đầu tư tương hỗ lẫn nhau. Niềm tin bị giảm sút, sự căm ghét có thể được phóng đại, giá trị bị mòn đi vì tôi không gặp gỡ và trao đổi với người thật … Và cuối cùng, ông kết luận :

Hãy tóm tắt lại. Trên khía cạnh cầu, lạm phát quan hệ tạo ra những hiệu ứng của cuộc thi sắc đẹp, nơi, chỉ cần mỗi một sự đánh giá bầu chọn cho thí sinh mà họ nghĩ là những người khác sẽ thích nhất, người ta truyền tải những điều người ta nghĩ người khác muốn. Trên khía cạnh cung, lạm phát quan hệ tạo ra hiệu ứng của cuộc thi đại chúng, nơi mọi người (và các nghệ sĩ) cố gắng để thu hút sự chú ý bản năng và tức thì – thay vì tạo ra thứ kinh hoàng.

—————————————————————

Tôi không cho rằng Umair sai. Tôi chỉ nghĩ rằng ông không đúng.

Điều thứ nhất, xã hội biến đổi, con người biến đổi và trên hết là sự thích nghi – bản năng rất tự nhiên.

Điều thứ hai, phần lớn đám đông không thể chống lại xu hướng, họ phải thích nghi với xu hướng để tồn tại.

Điều thứ ba, giá trị trên mạng là giá trị tương hỗ và hai chiều, thậm chí là cực kỳ hai chiều luôn.

Điều thứ tư, Umair lo lắng về các giá trị bị xói mòn khi phải nói chuyện, giao dịch với người không biết mặt nhưng lại không hề nhắc tới và nhớ rằng trước đây thì dù có giao dịch Face2Face, họ chỉ có hai hoặc một nhóm nhỏ người biết cuộc trao đổi giao dịch này. Bây giờ, cả thế giới có thể biết được tôi đang xem gì, tôi đang làm gì, tôi mua gì, bán gì cho ai trên Wall của tôi, trên Live Feed của tôi, trên Stream Activity của tôi hay bất cứ cái quỷ quái gì tương tự thế, tôi thậm chí phải cẩn thận hơn để bảo vệ hình ảnh của mình chứ?

Điều cuối cùng, không có thước đo chính xác về giá của mối quan hệ để nói nó lạm phát hay không. Sự thích nghi của con người cho phép người ta chấp nhận và có cảm giác hạnh phúc không kém gì quá khứ. Nói rõ hơn, một bức thư tay hồi xưa và một bài hát bây giờ post trên Facebook để tặng bạn khi đang buồn, cái nào có giá trị hơn? Chuẩn mực về giá thay đổi nên nói Umair không sai khi xét trên chuẩn mực cũ và ông đã không đúng trên chuẩn mực mới.

—————————————————————

Cái gì đến phải đến, cái gì đi rồi sẽ đi. Con người chẳng phải lần đầu tiên đối mặt với những thứ như thế này, họ đã đối mặt nhiều lần khi mà xã hội phát triển từ bộ lạc tới làng xóm, thành phố, đô thị và siêu đô thị rồi. Hôm qua một người bạn nói với tôi rằng “Bây giờ có những lúc ngôn ngữ thật bất lực, muốn nói gì đó lắm mà không nói được“. Tôi buột miệng “Thì Facebook có cái nút Like là vì thế đó“. Like một cái, vừa lịch sự lại vừa không xu nịnh, thế có khi lại chẳng hay hơn?

“Quyền lực đích thực” của “Nhà quản lý thoáng”

The bird said

Đầu năm vừa rồi, tôi mới chia tay với hai cộng sự làm việc trực tiếp cùng mình. Hai người cộng sự đã giúp tôi và công ty của chúng tôi khá nhiều và tất nhiên cuộc chia tay đó thực sự là một cuộc chia tay ít nhiều tiếc nuối. Nói thế để bạn thấy rằng nếu bạn mong chờ kinh nghiệm quản lý của một người làm quản lý giỏi ở tiếp sau đây thì có lẽ bạn đã tìm nhầm chỗ. Tôi chỉ có thể làm một việc mà mình vẫn hay làm, đó là chép sách ra để chia sẻ cho mọi người. Xét cho cùng, tôi chỉ là một người hay đọc sách và từ việc đọc sách tới việc làm được một điều gì đó nho nhỏ lại là một khoảng cách khá xa.

——————

Hai cuốn sách tôi muốn nói tới là cuốn “Nhà quản lý thoáng” của Steve Chandler/Duane Black và cuốn “Quyền lực đích thực” của Thích Nhất Hạnh. Đọc hai cuốn sách này ở hai thời điểm khác nhau rất nhiều nhưng điều làm tôi cảm nhận được là một lần nữa, tri thức lại chứng tỏ cho ta thấy không có sự khác biệt quá lớn về suy nghĩ giữa châu Âu và châu Á nếu đi vào tận cùng của vấn đề (điều này bạn có thể thấy được qua các cuốn sách như “Đạo của vật lý” hay “Einstein và Đức Phật”).

Cuốn “Nhà quản lý thoáng” (NQLT) bắt đầu bằng một câu nói của Peter Drucker :

Quá nhiều thứ trong cái-gọi-là-quản-lý là nhằm gây khó khăn cho công việc của người khác

Lời bạt của cuốn “Quyền lực đích thực” (QLDT) nói rằng :

Nhìn sâu, ta thấy rằng vẫn có cách tham dự vào thế giới kinh doanh đồng thời đem lại hạnh phúc cho ta và những người khác. Công việc của ta có ý nghĩa khi nó đem lại lợi lạc cho nhân loại và môi trường. Cũng là kiếm tiền nhưng kiếm tiền một cách có ý nghĩa, bởi vì nó đem lại an vui cho thế giới.

Sẽ không hay nếu tôi tiếp tục tóm tắt những điều mà hai cuốn sách này nói. Thay vì đó, với 10 câu trích dẫn dưới đây của hai cuốn sách tôi hy vọng rằng sẽ thuyết phục được các bạn cảm thấy rằng hai cuốn sách này là hai cuốn sách nên đọc. Nên đọc cả hai vì nó tuy hai mà là một (còn nếu có quyển nữa giống như thế để thành dầu gội 3 trong 1 thì tôi sẽ giới thiệu với các bạn sau :mrgreen: ). Trên hết, đọc xong hãy áp dụng nó vào công việc của mình. [Read more...]

VOV Giao Thong – The successful model of Crowdsourcing

We all know that the most successful and easy to recognize model of Crowdsourcing in the world is Wikipedia. For me, Wikipedia isn’t the big move of technology but the exciting move of human belief. Everybody is an expert on their field and we don’t need to ask, pay and wait for an answer of real expert. We can ask and build an encyclopedia for ourselves. Free doesn’t mean inaccurate. Some researcher said Wikipedia as correct as Britannica (old model).

It isn’t easy at all to bring Crowdsourcing to the life. Your project needs to divide to small independent modules in which everybody can take a role to complete. The key factor of this process is anyone being joyful as a reward when taking a part of it. Hence, online indeed is the easiest and best environment to crowdsource.

leeds at night

But when I went out the city with my family last weekend, I know I was wrong. VOV Giao Thong (a radio channel with nearly real-time traffic status update) taught me a lesson of offline Croudsourcing. You can call in to check the traffic road conditions or report an accident. More than 100 cameras at 60 hot spots around town and the reporters will help those on-the-go access the latest traffic information.

Vietnamese isn’t accustomed to report to help others. The VOV GT  is likely the first committing to the pursuit of the highest level of traffic safety within the community and educating people to raise their voice when seeing things. I can’t help thinking that to make the success in other battles fighting against poverty, sickness and education… can all get real if the mastermind behind them possesses the mystery of Crowdsoursing.

(pix courtesy of tricky – Under Creative Commons License)

Sự tin tưởng…

Hôm nay, Chris Baskind đã có một bài viết khá hay với tiêu đề “The Only Workable Model for the Web is Trust“. Xin được trích dẫn nguyên văn một đoạn quan trọng nhất trong bài viết này ở đây :

The brands they will choose will be the ones they trust, and trust is the end product of a consistent and transparent relationship between producer and consumer. As Valeria wrote recently:

Trust is earned. Trust is more valuable than gold. People will pay for it. And if you’re working to earn it now, you’re already creating equity in the next economy.

So back to basics we go, whether we’re attempting to build empires or playing the role of market insurgent. The game is the same, and it’s the quality of your name.

Whatever product or service you must say grace over, there’s somebody out there with the same thing — only cheaper. But they can’t discount the trust you develop with your potential customers. In a real sense, trust is the currency of the next media economy.

——————————

Ngày hôm nay mới có thời gian ngồi đọc kỹ cuốn “Đô-la hay lá nho?” (bản dịch của cuốn Naked Economics). Trong cuốn sách này cũng nói về giá trị của thông tin và sự tin tưởng. Ngày nay, chúng ta đôi khi phòng bị với những người xung quanh từng đồng, từng hào một nhưng lại gửi cả tấn tiền vào ngân hàng cho những người mà chúng ta không quen biết. Khi chúng ta đến một nơi xa lạ, chúng ta có thể khó khăn trong việc lựa chọn các món ăn địa phương nhưng lại dễ dàng gật đầu khi bước vào một cửa hiệu KFC, McDonald hay Jolibee mà chúng ta chưa từng ăn bao giờ. Đơn giản, logo thân quen này đã cung cấp đầy đủ cho chúng ta biết thông tin về các món trong cửa hiệu, về việc nó có nhà vệ sinh hay không và thậm chí là cả việc một suất cánh gà rán sẽ có mấy chiếc cánh. Những cửa hiệu này không chỉ bán (và song song với điều đó, chúng ta không chỉ mua) sản phẩm mà còn là cả những thông tin có thể dự đoán được, có thể tin tưởng được.

——————————

Tất cả mọi thứ đều đúng đối với chiều đi từ Nhà sản xuất -> người mua hàng. Sự tin tưởng sẽ gia cố và tạo ra sự vững bền đối với các tính chất còn lại của nhãn hàng. Thế nhưng, chiều ngược lại thì sao? Liệu nhà sản xuất có tin tưởng người mua hàng được không?

“Đô-la hay lá nho” có một ví dụ rất hay về việc này. Đó là ví dụ của người bán bảo hiểm và người mua bảo hiểm. Người mua bảo hiểm luôn có nhiều thông tin về sức khỏe của mình nhiều hơn là người bán bảo hiểm. Thông thường, ngành bảo hiểm hoạt động dựa trên việc xác định chi phí bảo hiểm trung bình trên tất cả những người mua bảo hiểm và tính phí bảo hiểm cao hơn một chút so với chi phí trung bình này. Tuy vậy, chi phí này chỉ thực sự đúng khi thông tin người mua bảo hiểm cung cấp cho người bán bảo hiểm là chính xác tuyệt đối. Nếu bạn cung cấp thông tin chính xác thì chi phí bảo hiểm có thể tăng vọt và thậm chí là chả ai muốn bán bảo hiểm cho bạn nếu bạn đang bị một chứng bệnh khó chữa. Do vậy người mua bảo hiểm thường sẽ không khai chính xác thông tin về sức khỏe của mình (chưa tính tới việc họ vô tình khai không chính xác vì khi nói tới bệnh tật ai cũng muốn nói nhẹ hơn). Khi thông tin thu được không chính xác, người bán bảo hiểm sẽ phải điều chỉnh bằng cách tăng giá để không bị lỗ. Việc tăng giá này khiến cho những người khỏe nhất trong số những người ốm thấy rằng đây là một mức giá bất lợi (vì thấy rằng họ phải trả cao hơn mức họ được hưởng) và sẽ dừng không mua bảo hiểm nữa. Khi đó, số lượng người ốm nặng tăng lên (rủi ro cho hãng bảo hiểm tăng) và chi phí bảo hiểm lại tiếp tục tăng. Cuộc rượt đuổi về thông tin cứ diễn ra cho tới khi thị trường bảo hiểm không chịu nổi nữa và … giải tán.

Do vậy, ở đây sẽ có hai giải pháp để tránh việc thị trường bảo hiểm phải giải tán. Cách thứ nhất : không bán cho cá nhân mà bán cho cả một tổ chức (ví dụ một công ty). Điều này cho giúp cho rủi ro được giảm bớt vì sức khỏe của những người trong công ty là không đồng đều, trừ phi công ty này sản xuất thứ gì đó có hại cho sức khỏe của công nhân. Cách thứ hai : cho cá nhân tự chọn mức bảo hiểm. Nếu anh tin rằng 10 năm nữa mới bệnh, tôi sẽ bán cho anh với giá là 1 đơn vị. Nếu anh nghĩ rằng 5 năm nữa anh đã bệnh rồi, tôi sẽ bán cho anh với giá là 2 đơn vị (con số này chỉ là ví dụ). Đây là một dạng khôn khéo để lấy thông tin của người mua bảo hiểm.

Rõ ràng, người mua bảo hiểm có lợi thế bởi họ không cần phải cung cấp thông tin đúng cho người bán bảo hiểm. Trong khi đó, các nhãn (bao gồm cả bảo hiểm) muốn tồn tại được thì ngày càng phải cung cấp những thông tin đúng và giữ vững sự tin tưởng của khách hàng.

Câu hỏi ở đây : nếu người bán bảo hiểm sử dụng Social Media để biết được thông tin của người mua bảo hiểm thì sao? Nếu họ nói rằng, tôi không thể bán bảo hiểm cho anh với mức là 1 đơn vị bởi vì trong 5 tháng gần đây, anh đã kêu ốm trên Facebook tới 10 lần thì sao?

Câu hỏi tiếp : sự minh bạch của thông tin lúc đó có còn không? Nếu không phải chỉ bảo hiểm mà là các thông tin khác bạn đang chia sẻ để xây dựng một hình ảnh được người khác tin tưởng cũng sẽ bị khai thác để tạo nên những điều bất lợi cho bạn, bạn có chia sẻ nữa không?

TCP/UDP với Real-time/Long Tail

Nếu bạn không học về Networking, bạn chẳng phải quan tâm đến TCP và UDP làm gì. Tuy vậy, tôi muốn nhắc một chút tới TCP/UDP trước khi nói tới vấn đề chính của bài blog này (Real-Time vs Long Tail) để thấy rằng đôi khi trong cuộc sống, có rất nhiều pattern chung ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Đây có thể sẽ lại là một bài blog hơi luẩn quẩn và hy vọng bạn sẽ giúp tôi làm rõ hơn những gì luẩn quẩn trong đầu tôi. :mrgreen:

———————————-

Một cách chung chung nhất, TCP và UDP là hai giao thức (quy định cách thức giao tiếp) mạng phổ biến trên Internet. Để truyền thông tin đi trên mạng, người ta chia nhỏ thông tin ra thành nhiều phần. Việc này giống như khi bạn chuyển nhà, nếu bạn có ô tô to, bạn có thể chuyển tất cả đồ đạc đi trong một chuyến. Nếu không có ô tô mà chỉ có xe máy hoặc xích lô, bạn có thể chia nhỏ đồ đạc ra thành nhiều chuyến và chuyển dần đi. Nói chung, giao thức hay bất cứ thứ gì xuất hiện thường sẽ dễ tồn tại hơn nếu được nhiều người sử dụng hơn, do vậy thông tin trên Internet cũng được chia nhỏ để truyền đi cho phù hợp với nhiều môi trường mạng và tốc độ khác nhau.

Cơ động là lợi thế của việc chia nhỏ, tuy vậy vấn đề lớn nhất của việc chia nhỏ là làm sao sau khi chia nhỏ và chuyển tới đích, chúng ta giữ nguyên hiện trạng thông tin/vật được truyền đi. Tôi chuyển 100 chiếc đĩa CD từ nhà cũ sang nhà mới và khi đến nhà mới thì chỉ còn 50 chiếc thì thật không chấp nhận được phải không? Đây là điểm khác biệt chính giữa TCP và UDP.

Với UDP, bạn chấp nhận mất mát để đảm bảo tốc độ. Ví dụ như các phần mềm streaming sẽ sử dụng UDP. Bạn có thể mất đi một vài khung hình nhưng bù lại đảm bảo tốc độ để bộ phim đang xem online không bị giật hình.

udp

Với TCP, tính toàn vẹn quan trọng hơn tốc độ. Tôi chấp nhận rằng có thể tôi đi bộ và cầm theo đống đĩa CD từ nhà cũ sang nhà mới cũng được, nhưng 100 cái đĩa quý của tôi không được phép sứt mẻ tẹo nào.

tcp(bản quyền hình và các thông tin thêm về TCP vs UDP có thể xem tại đây)

———————————-

Một người bạn làm trong ngành FMCG đã có lần chia sẻ với tôi rằng càng ngày thì việc quyết định xem hàng của bạn ý có bán được hay không sẽ không phải do nhà sản xuất quyết định mà là do … siêu thị (chỗ trưng hàng) quyết định. Bạn làm đủ mọi cách để người mua biết tới nhãn hàng của bạn nhưng toàn bộ siêu thị xung quanh người mua lại trưng hàng của đối thủ thì bạn cũng khó lòng chống đỡ được.

Long Tail có tầm quan trọng đặc biệt trong việc cải thiện khả năng trưng hàng của bạn. Tất nhiên không phải mặt hàng nào cũng có thể áp dụng Long Tail được. Mặt hàng đó phải có khả năng dễ dàng tìm kiếm, chi phí vật lý lưu trữ mặt hàng đó phải rẻ tới cực rẻ … Do vậy, thường những mặt hàng online sẽ dễ dàng thỏa mãn điều kiện này hơn. Amazon giải quyết bài toán này với các mặt hàng offline (sách) bằng cách số hóa chúng để lưu trữ và in ra khi người sử dụng cần.

Long Tail cũng có tầm quan trọng đặc biệt đối với các website bán các mặt hàng trực tuyến, ví dụ như bán nhạc số, bán phim số … Website tổng hợp thông tin (như Google News, Yahoo News, Baomoi…) hay Social News (như Digg, Mixx, Linkhay…) không phải là ngoại lệ trong số này. Nếu xét một cách thô thiển traffic của người dùng (lượt views) là đơn vị tiền tệ của các website liên quan tới thông tin, bạn có hai cách để làm tăng traffic : show ít tin nhưng mỗi một tin có nhiều người đọc (big head-tin hot) hoặc mỗi một tin của bạn có ít người đọc nhưng lại có nhiều tin được đọc (long tail-tin chuyên ngành). Ở đây xin bỏ qua khía cạnh show hàng cho Search Engine vì đấy lại là câu chuyện hơi khác có liên quan tới SEO, Content FarmsĐứng từ khía cạnh người sử dụng, mặc xác ông ba hoa gì thì tôi cũng chỉ quan tâm tới những gì tôi thích, vì vậy ông làm thế nào chỉ ra cho tôi cái tôi thích thì tôi sẽ đọc. Với các trang thông tin thì cái người dùng thích không chắc đã phải là cái mới nhất đối với người dùng. Ví dụ, một bài báo về chuyên ngành cách đây 1 tuần mà tôi chưa đọc thì vẫn mới toanh đối với tôi, nhưng thông tin về chứng khoán cách đây 1 tuần thì chả có ý nghĩa gì cả.

long-tail(bản quyền hình của Edgewater Tech Blog)

———————————-

Mạng xã hội xuất hiện kéo theo việc thể hiện thông tin theo kiểu stream. (*)Real-time stream giống y hệt như việc bạn đứng trên vỉa hè của đường một chiều và nhìn mọi người đi qua bạn lần lượt lần lượt. Ai quen, ai bạn thấy thích thì bạn chào, bạn nói chuyện, ai không quen, không thích thì bạn bỏ qua. Đọc tin trên Baomoi chả hạn, với cỡ 6000 tin một ngày thì chắc chắn không phải tin nào bạn cũng quan tâm (mà thậm chí chắc chưa tới 5% số tin là bạn quan tâm), nếu thể hiện theo kiểu stream thì bạn cứ để thông tin ào ào qua, tin nào hay thì bạn click.

Facebook trong một chừng mực nào đó thì lại khác. Bạn như một ông cha cố trong một cái làng be bé, chờ từng con chiên một đi qua để xưng tội. Ai bạn cũng quan tâm/phải quan tâm. Bạn có quyền không đưa ra lời khuyên gì cả cho những lời xưng tội đó, thế nhưng nếu bạn không đưa ra lời khuyên, có thể tuần sau, tháng sau… con chiên của bạn sẽ sang xưng tội ở … làng bên cạnh. Bạn có thể add một đống người, nhưng rồi bạn sẽ remove người đó đi nếu bạn không giao tiếp với người ta. Bạn có thấy bóng dáng của TCP vs UDP ở đây không?

———————————-

Vậy rốt cuộc, điều đáng lo lắng ở đây là gì? Là khi xu hướng real-time stream phát triển, liệu còn chỗ để show những mặt hàng cũ nhưng có giá trị với người dùng hay không? Nếu còn, show như thế nào? Giống như siêu thị chỉ có một lượng cố định chỗ để bày hàng, con người cũng chỉ có một lượng thời gian cố định trong ngày (24h/ngày, 24x60x60 giây/ngày) để xử lý thông tin.

Đây là chỗ mắc mớ và từng trường hợp một sẽ có câu trả lời khác nhau. List các điều nho nhỏ tôi nghĩ liên quan tới việc này (xét riêng đối với mặt hàng là tin tức) để có gì blog tiếp (có thể đúng, có thể sai):

  • Real-time và mới là hai khái niệm khác nhau. Đương nhiên người ta nghĩ và hy vọng rằng real-time là tiếp nhận các thông tin mới một cách liên tục, nhưng mới với người này không có nghĩa là mới với người khác.
  • Tùy từng loại thông tin mà giá trị của nó là khác nhau. Có những loại thông tin nếu không mới thì chẳng có giá trị với số đông (1), có loại thì không mới vẫn có giá trị với số đông(2), có loại thông tin không mới thì chỉ có giá trị với thiểu số(3). Tin tức hầu như thuộc loại (1) và một ít là thuộc loại (3).
  • Real-time không phải là không search được nhưng  càng real-time thì sẽ càng không có đất sống cho search(?).
  • Càng chấp nhận real-time, có nghĩa là càng chấp nhận có nhiều thông tin sẽ mất (giống UDP). Hy sinh thời gian kiểm chứng và tìm tòi thông tin cho việc hưởng thụ các thông tin có sẵn.
  • Đơn vị thông tin càng chia nhỏ (bài viết – đoạn viết – twit) thì dường như giá trị sẽ giảm nhanh hơn theo thời gian. Bù lại, đơn vị thông tin nhỏ không hề làm giảm đi tính quan trọng của nó.
  • Khó lòng để đoán được ngữ cảnh của stream, do vậy việc xác định và thêm thông tin (bài viết, quảng cáo) phù hợp với stream là việc khó khăn.
  • Real-time vẫn phù hợp với Long Tail vì từng nhóm người khác nhau sẽ có những nhu cầu cập nhật thông tin khác nhau (via @Tai Tran).
  • Có thể thay đổi thứ tự của thông tin hiện ra trên real-time stream (nếu việc thay đổi này vẫn đảm bảo giá trị của thông tin) (via @Tai Tran).

———————————-

Update 4Jan2010 : (*) Chỗ này chắc phải là Public Stream thì mới nói như thế được vì nếu theo giải thích về Real-Time ở đây thì Real-Time Web phải có một thuộc tính là “is public and has an explicit social graph associated with it“. Đã có social graph dính vô là phải có quen biết nhất định rồi.