My thoughts on Mobile News in Vietnam
Tự do nằm co trong cái máng lợn
Bài này muốn nói về sáng tạo, mà thực ra là chép lại những gì người ta nói về sáng tạo vì trong 1 tuần này đọc lướt qua mấy chỗ đều thấy có một pattern giống hệt nhau.
Đầu tiên là bài viết “Creative Constraint: Why Tighter Boundaries Propel Greater Results“, cái tên của bài viết đã nói lên tất cả rồi. Có vài câu cần note lại trong đống chữ này :
As Dave Gray commented on his blog, “Creativity is driven by constraints. When we have limited resources — even when the limits are artificial — creative thinking is enhanced. That’s because the fewer resources you have, the more you are forced to rely on your ingenuity.”
Good improvisation also follows unspoken rules: You must accept all contributions, you must justify anything that’s introduced on stage, and everyone must participate. Yet by adhering to these boundaries, improvisers know they can be wildly creative in all other ways.
“Highly creative adults frequently grew up with hardship. Hardship by itself doesn’t lead to creativity, but it does force kids to become more flexible — and flexibility helps with creativity.”
Trong cuốn The 4-Hour Work Week của Tim Ferris (cuốn sách lúc đầu mình không muốn đọc vì nghĩ nó giống các cuốn self-help, tuy nhiên khi đọc thấy rất thực tế), Tim có nêu hai định luật. Định luật Pareto về 80/20 thì hầu như ai cũng biết. Cái hay của Tim là tiếp sau Pareto, Tim nói về Parkinson Law. Cơ bản thì định luật này nêu ra rằng, nếu có một việc quan trọng mà bạn chỉ có 24h để làm nó, kiểu gì bạn cũng sẽ làm xong. Nếu cùng việc đó mà bạn có 7 ngày để làm thì 6 ngày đầu, bạn cũng sẽ dùng nó để đặt ra thêm các chướng ngại vật cho bạn trước khi bạn dành 24h cuối cùng để giải quyết nó. Nếu bạn có 2 tháng thì có nghĩa bạn lại càng có thêm thời gian để đặt chướng ngại vật cho mình, thay vì giải quyết việc.
Đến đó, Tim đưa ra hai kết luận :
- Để rút ngắn thời gian làm việc, chỉ làm những việc thực sự quan trọng và giúp ích được nhiều cho mình (80/20)
- Rút ngắn thời gian làm từng task một để đẩy mức độ quan trọng của task đó lên cao hơn (Parkinson)
Cuối cùng là quả thực Tim đã làm được rất nhiều thứ, nhìn cái list mình quá nể phục!
Môt quyển khác, Making Ideas Happen của một bạn founder của Behance(.net). Cuốn này mua trước khi Tiki tăng giá sách do USD tăng ( 8-O). Cuốn này mới chỉ đọc qua phần đề mục và chương đầu, tuy nhiên cũng có thể rút ra được cái tác giả muốn nói chính là câu mà tác giả in to vật ở bìa sách “Ideas are worthless if you can’t make them happen”. Mà muốn make nó happen thì phải đưa Idea vào một hệ thống, một framework để thúc đẩy nó có thể happen được. Sau đó, phải follow framework này một cách chặt chẽ và có kỷ luật.
Trưa nay đọc cuốn Starting Photography của Michael Langford. Mình paste luôn đoạn này ra đây (ngay trang 1 – chương 1) để thấy muốn chụp ảnh được thì cần nhận thức rằng mắt mình không có edge (đường biên), còn ảnh thì là hình chữ nhật, có biên dọc, biên ngang. Túm lại là phải nhận thức rằng mình đang sáng tạo bên trong cái đường biên, nếu muốn chụp ảnh. (click để phóng to).
Có cái chuyện là cả lớp thi xem ai gấp máy bay bay nhanh nhất. Cuối cùng người thắng cuộc là người vo tròn tờ giấy và ném từ cuối lớp lên đầu lớp. Nghe truyện này xong mình nghĩ 90% không phục. Mình thì phục. Vấn đề là bạn ấy biết cái giới hạn của mình, biết cái máng lợn của mình để mà nằm co cho khéo. Còn tất nhiên, nếu đề bài là gấp máy bay vừa đẹp vừa bay nhanh thì đấy lại là cái máng lợn khác. Nếu cứ đi tìm cái giường thơm tho cái nệm ấm, chắc lại giống như nhà văn đợi bao giờ hết ruồi mới viết của ông Aziz Nesin mà thôi.
Từ “bán dạo” đi tới Groupon
Sau khi đọc bài viết khá thuyết phục của Tú Đỗ về Groupon, mình dường như không biết viết gì hơn vì không làm mô hình này, những gì suy nghĩ thì cũng chỉ là suy nghĩ và cũng viết hết ra rồi. Tuy nhiên, cái câu hỏi thế Groupon là một kênh marketing hay một kênh sale vẫn cứ dai dẳng nằm trong đầu mình, thế nên hôm nay lại viết thêm bài nữa để trả lời cho câu hỏi “Liệu Groupon có thể coi/gán ghép như là một mô hình direct-marketing kiểu mới hay không?“
Khái niệm direct-marketing là một khái niệm khá thú vị mà chắc chắn với tầm hiểu biết của mình cũng như trong một bài viết ngắn thì không thể trình bày cho hết được. Mình tóm lại lịch sử của Direct-Marketing bằng vài cái gạch đầu dòng như sau :
- Thế kỷ XIV, những người bán dạo đã chở đồ đạc đi khắp châu Âu để bán hàng. Lúc này phương tiện di chuyển khó khăn, phương tiện liên lạc khó khăn, thuế đối với những người không có cửa hàng ít hơn so với người có cửa hàng. Mặt hàng được bán lúc này ít nên người bán dạo có thể mang hàng mẫu trong túi của mình để cho người mua xem.
- Máy in trên thực tế đã được người Trung Quốc phát minh từ thế kỷ thứ VI, tuy nhiên vào thế kỷ XV khi Gutenberg phát minh ra máy in công nghiệp thì in ấn mới phổ biến hơn. Đi liền với chuyện này thì catalog hàng hóa bắt đầu được in ra và được phổ biến ở thế kỷ XVII, XVIII cho tới tận bây giờ. Cho tới lúc này thì phương tiện di chuyển vẫn chưa phát triển hơn.
- Vào thế kỷ XIX, XX thì mới bắt đầu nở rộ việc mua hàng qua bưu điện (Mail-order). Phương thức này từng được gọi là “eliminate the middle-man” và các hãng sản xuất có thể bán hàng trực tiếp thông qua việc gửi catalog cho khách hàng, khách hàng order qua bưu điện và hãng gửi lại hàng cho khách hàng.
Tạm dừng ở đây một chút. Có hai vấn đề nhỏ cần nói nhanh ở đây. Vấn đề thứ nhất là có thật sự “eliminate the middle-man” hay không? Có vẻ như là không vì không chỉ các hãng sản xuất mà cả các nhà phân phối bán buôn cũng sử dụng hình thức quảng bá và bán hàng này (như vậy lúc đó nhà phân phối bán buôn chính là middle-man của các hãng sản xuất). Điểm thứ hai là catalog khi có sự xuất hiện của Internet được biến thiên từ bản in (trên giấy) sang email, website … và chuyển dần từ Push (gửi hú họa/gửi có chọn lọc db nhưng vẫn dựa trên sự phỏng đoán giả định về nhu cầu khách hàng) tới Pull (khách hàng tự vào xem catalog online và tự quyết định việc mình sẽ order gì). Do vậy, thu thập database khách hàng và việc mining db khách hàng/thói quen mua hàng là rất quan trọng với hình thức marketing này.
Câu hỏi thường thấy là hình thức direct-marketing này có phải là marketing thực sự hay không? Có, câu trả lời là có. Có nghiên cứu nhu cầu khách hàng, có bán hàng tạo ra lợi nhuận, có hậu mãi, có chú trọng tới việc tăng độ trung thành của khách hàng … Túm lại là giống các hình thức marketing khác, chỉ có điều là sử dụng các kỹ thuật khác nhau mà thôi.
Khi Groupon giải phóng vấn đề xoay vòng mặt hàng bằng cách cho phép người bán hàng có thể tự tạo ra một store gần giống Facebook Pages, cho phép người mua follow để theo dõi thông tin bán hàng và người bán hàng tự đăng tải các deal của mình, bất chợt mình thấy Groupon giống người bán dạo ở thế kỷ XIV. Chỉ khác ở chỗ nó hiện đại hơn, công nghệ cao hơn. Còn lại thì thay vì việc người sử dụng ngồi ở nhà để chờ người bán dạo đi qua và đưa ra các mặt hàng, ngày nay người sử dụng cũng ngồi (ở nhà, ở công ty, ở quán cf…) trước màn hình máy tính/mobile device để đợi chờ người bán đưa hàng (giảm giá + phù hợp với vị trí địa lý) lên store của mình trên Groupon và các website tương tự.
Từ một môi trường thiếu thốn thông tin, thiếu thốn hàng hóa, phương tiện di chuyển khó khăn cho tới một môi trường thừa mứa thông tin, dư thừa hàng hóa, di chuyển tương đối dễ dàng, vậy cái gì làm người mua lại quay trở lại thói quen của những người ở cách họ 6-7 thế kỷ?
TIỀN? GIẢM GIÁ?
Mình chưa thể tìm ra một lý do nào tốt hơn lý do về Tiền. Direct Marketing hiện đại sử dụng vào việc phân tích dữ liệu và hành vi mua sắm của khách hàng khá nhiều để gửi offer cho khách hàng, nhưng Groupon thì đưa ra offer chỉ có lợi về giá chứ chưa chắc đã sát với nhu cầu của khách hàng (dẫn tới tâm lý tiêu xài quá đà của khách hàng khi mua những mặt hàng rẻ và mình thích nhưng thực sự không cần thiết với họ).
Thế nhưng lợi thế về Tiền lại không phải là lợi thế lâu bền. Không lâu bền ở nhiều chỗ và cái này mọi người cũng đã nói nhiều về mô hình Groupon, ví dụ không thể cái nào cũng giảm giá được (dễ bị đánh giá thấp giá trị mặt hàng, khách hàng chỉ mua vì giá chứ không mua vì thương hiệu/chất lượng -> không trung thành). Cũng chính theo một nghiên cứu của Rice University được đăng tải trên DirectMarketingNewsWire, mô hình Groupon (hiện tại) đang mang lại lợi ích cho người tiêu dùng nhiều hơn là cho doanh nghiệp. Nghiên cứu này đưa ra con số % doanh nghiệp hài lòng khi sử dụng Groupon thấp hơn nhiều so với con số mà Groupon tự đưa ra. ToMuse cũng đưa ra 10 lý do khá hay về việc tại sao doanh nghiệp không nên sử dụng Groupon (trong đó ý về việc brand dilution được mình nhắc tới ở trên là học ở đây ra).
Tất cả những điều này mù mờ cho thấy rằng mô hình Groupon sẽ còn thay đổi rất nhiều và rất nhanh. Đây cũng là một case thú vị để tiếp tục theo dõi, nhất là khi mô hình có thay đổi và có nhiều người chơi (player) hơn nữa tham gia cuộc chơi này (ví dụ như các mạng xã hội…)
Mấy câu hỏi nhỏ về mô hình Groupon
Nói chung là mình không có hiểu biết gì về thương mại điện tử. Đặc biệt là trừ account Flickr, Rapidshare, vé máy bay và một (mới chỉ một) cuốn sách của Tiki.vn thì mình chưa mua bán hay tham gia bất cứ hoạt động thương mại điện tử nào. Kể cả mấy cái trên thì cũng là do bắt buộc phải mua qua mạng chứ nếu không mình vẫn thích mua cái gì mà … sờ được hơn. Tuy nhiên với bạn Groupon thì phải suy nghĩ (ác liệt) vì bạn là công ty đạt được doanh thu (sale) 1 tỷ USD nhanh nhất. Bằng cách mua nhiều và giảm giá. Và đặc biệt là theo bạn TrangNEU thì tất cả mọi người năm ngoái đều nói về SNS, năm nay thì nói về thương mại điện tử. Rồi các công ty theo mô hình này ở VN ùn ùn xuất hiện (muachung,phagia…) Thế nên mình cũng adua, không biết cũng nói cho nó có phong trào. Chả phải Groupon là mua theo phong trào hay sao
.
Câu hỏi 1 : Vào đó là để mua đồ giảm giá. Vậy giảm đến bao nhiêu thì không bị coi là mất giá trị (devaluated)? Thường thì một mặt hàng đang giá cao mà giảm nhiều thì rất dễ bị “nghi ngờ” là mất giá trị. Quần áo cũng vậy, hết mùa thì sale nhưng nếu sang năm mà bạn mặc quần áo của năm nay rồi có người hỏi bạn là “mua đồ sale à?”, thể nào cũng có lúc bạn xấu hổ.
Câu hỏi phụ : Làm thế nào để vực lại giá trị khi giảm giá quá nhiều? Nếu như bày ở ngoài hàng mà giảm đến 90% thì sẽ bị ít nhiều coi là mất giá trị. Bày trên web liệu có cách nào làm cho nó long lanh hơn không?
Câu hỏi 2 : Đây là câu hỏi chính yếu khi nghĩ về mô hình này. Vậy, mô hình mua theo nhóm sẽ là một kênh bán hàng mới hay là một kênh marketing mới? Bạn sẽ lầm bầm là bán được 1B USD thì tất nhiên là kênh bán hàng rồi, thế mà cũng hỏi. Tuy nhiên kể cả 1B cũng không phải chỉ bán một mặt hàng mà chia ra làm nhiều mặt hàng. Bạn không thể nói bạn định giá mặt hàng A của bạn là 1 triệu đồng, trong khi bạn sản xuất ra 100 sản phẩm A và tất cả đều bán với giá 1 trăm ngàn đồng được. 10 sản phẩm bán 1 trăm ngàn đồng, 10 sản phẩm bán 5 trăm ngàn đồng, còn lại bán 1 triệu đồng thì mới có lý khi nói định giá mặt hàng là 1 triệu đồng. Nếu nhìn qua thì thấy đa phần các mặt hàng được bán theo mô hình mua theo nhóm đều bán với số lượng ít (<100 món/lần) – đa phần chứ không phải tất cả nhé.
Nếu chỉ bán số lượng ít như vậy, bạn có thể trông mong gì vào doanh thu? Chắc là không vì lãi ít nhân với số lượng nhiều thì mới bù được lãi nhiều nhân với số lượng ít, chứ lãi ít nhân với số lượng ít thì bù sao được? Vậy bạn tham gia làm gì? Để marketing (quảng bá, PR, tạo viral – WOM, tiếp cận thị trường mới …)
Ranh giới giữa kênh bán hàng và kênh marketing trong trường hợp này là gì?
Câu hỏi 3: Tại sao tôi không tự làm lấy mô hình này (bán giảm giá theo nhóm) mà lại phải đưa mặt hàng của tôi lên website của bạn(groupon, muachung,phagia…)? Quay lại câu hỏi về ranh giới giữa kênh bán hàng và kênh marketing. Thực ra, Adidas cũng đã từng tự làm với FreeStripes (.com, nhưng chả hiểu tại sao giờ vào đó đã redirect về lại Adidas), Dell cũng tự làm với Dell Swarm. Câu trả lời có lẽ dễ thấy là những hãng này đều có cộng đồng khách hàng lớn và mục tiêu bán giảm giá theo nhóm của họ có thể sẽ khác với việc bán giảm giá trên các site như groupon. Thêm nữa, những mặt hàng họ bán là những mặt hàng thật (touchable, không phải dịch vụ) nên đây có thể là một cách làm để “thưởng”, “động viên” cho cộng đồng khách hàng sẵn có, dùng lượng khách hàng “hạnh phúc” này để PR cho mình.
Câu hỏi phụ : Lúc nào thì doanh nghiệp nên tự làm, lúc nào doanh nghiệp nên đưa hàng lên website mua hàng theo nhóm?
Câu hỏi 4 : Mặt hàng nào thì phù hợp để bán theo kiểu này? Bạn Sơn Tiki đã có câu trả lời cho mình (và mình thấy đúng) là các mặt hàng liên quan tới dịch vụ (dễ giảm giá) thì phù hợp hơn. Ví dụ ở đây có một thống kê của các mặt hàng bán được tại Trung Quốc.
(click vào hình để phóng to)
Có thể thấy các mặt hàng tiêu dùng nhanh dường như chưa phải là đối tượng thích hợp cho hình thức này. Vậy câu hỏi phụ sẽ là “Làm thế nào để các mặt hàng FMCG có thể áp dụng được mô hình bán theo nhóm?“
Câu hỏi 5 : Mô hình này là một mô hình tốt để “địa phương hóa” (Localize). Kết hợp nó thế nào với các công cụ địa điểm (kiểu như Foursquare), với các trang vàng kiểu mới? Cái này hỏi nhưng có khi bạn Diadiem.com với Muachung.com đã làm xong rồi ấy chứ ^^
Câu hỏi phụ : Địa phương hóa cho tốt thì người mua phải có đầy đủ thông tin. Đến bao giờ sẽ có app trên mobile, facebook… để tổng hợp và filter thông tin về các mặt hàng giảm giá? Cái này hỏi nhưng có khi bạn Diadiem.com cũng có mất rồi luôn ^^
“Quyền lực đích thực” của “Nhà quản lý thoáng”
Đầu năm vừa rồi, tôi mới chia tay với hai cộng sự làm việc trực tiếp cùng mình. Hai người cộng sự đã giúp tôi và công ty của chúng tôi khá nhiều và tất nhiên cuộc chia tay đó thực sự là một cuộc chia tay ít nhiều tiếc nuối. Nói thế để bạn thấy rằng nếu bạn mong chờ kinh nghiệm quản lý của một người làm quản lý giỏi ở tiếp sau đây thì có lẽ bạn đã tìm nhầm chỗ. Tôi chỉ có thể làm một việc mà mình vẫn hay làm, đó là chép sách ra để chia sẻ cho mọi người. Xét cho cùng, tôi chỉ là một người hay đọc sách và từ việc đọc sách tới việc làm được một điều gì đó nho nhỏ lại là một khoảng cách khá xa.
——————
Hai cuốn sách tôi muốn nói tới là cuốn “Nhà quản lý thoáng” của Steve Chandler/Duane Black và cuốn “Quyền lực đích thực” của Thích Nhất Hạnh. Đọc hai cuốn sách này ở hai thời điểm khác nhau rất nhiều nhưng điều làm tôi cảm nhận được là một lần nữa, tri thức lại chứng tỏ cho ta thấy không có sự khác biệt quá lớn về suy nghĩ giữa châu Âu và châu Á nếu đi vào tận cùng của vấn đề (điều này bạn có thể thấy được qua các cuốn sách như “Đạo của vật lý” hay “Einstein và Đức Phật”).
Cuốn “Nhà quản lý thoáng” (NQLT) bắt đầu bằng một câu nói của Peter Drucker :
Quá nhiều thứ trong cái-gọi-là-quản-lý là nhằm gây khó khăn cho công việc của người khác
Lời bạt của cuốn “Quyền lực đích thực” (QLDT) nói rằng :
Nhìn sâu, ta thấy rằng vẫn có cách tham dự vào thế giới kinh doanh đồng thời đem lại hạnh phúc cho ta và những người khác. Công việc của ta có ý nghĩa khi nó đem lại lợi lạc cho nhân loại và môi trường. Cũng là kiếm tiền nhưng kiếm tiền một cách có ý nghĩa, bởi vì nó đem lại an vui cho thế giới.
Sẽ không hay nếu tôi tiếp tục tóm tắt những điều mà hai cuốn sách này nói. Thay vì đó, với 10 câu trích dẫn dưới đây của hai cuốn sách tôi hy vọng rằng sẽ thuyết phục được các bạn cảm thấy rằng hai cuốn sách này là hai cuốn sách nên đọc. Nên đọc cả hai vì nó tuy hai mà là một (còn nếu có quyển nữa giống như thế để thành dầu gội 3 trong 1 thì tôi sẽ giới thiệu với các bạn sau
). Trên hết, đọc xong hãy áp dụng nó vào công việc của mình. [Read more...]
VOV Giao Thong – The successful model of Crowdsourcing
We all know that the most successful and easy to recognize model of Crowdsourcing in the world is Wikipedia. For me, Wikipedia isn’t the big move of technology but the exciting move of human belief. Everybody is an expert on their field and we don’t need to ask, pay and wait for an answer of real expert. We can ask and build an encyclopedia for ourselves. Free doesn’t mean inaccurate. Some researcher said Wikipedia as correct as Britannica (old model).
It isn’t easy at all to bring Crowdsourcing to the life. Your project needs to divide to small independent modules in which everybody can take a role to complete. The key factor of this process is anyone being joyful as a reward when taking a part of it. Hence, online indeed is the easiest and best environment to crowdsource.
But when I went out the city with my family last weekend, I know I was wrong. VOV Giao Thong (a radio channel with nearly real-time traffic status update) taught me a lesson of offline Croudsourcing. You can call in to check the traffic road conditions or report an accident. More than 100 cameras at 60 hot spots around town and the reporters will help those on-the-go access the latest traffic information.
Vietnamese isn’t accustomed to report to help others. The VOV GT is likely the first committing to the pursuit of the highest level of traffic safety within the community and educating people to raise their voice when seeing things. I can’t help thinking that to make the success in other battles fighting against poverty, sickness and education… can all get real if the mastermind behind them possesses the mystery of Crowdsoursing.
(pix courtesy of tricky – Under Creative Commons License)
TCP/UDP với Real-time/Long Tail
Nếu bạn không học về Networking, bạn chẳng phải quan tâm đến TCP và UDP làm gì. Tuy vậy, tôi muốn nhắc một chút tới TCP/UDP trước khi nói tới vấn đề chính của bài blog này (Real-Time vs Long Tail) để thấy rằng đôi khi trong cuộc sống, có rất nhiều pattern chung ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Đây có thể sẽ lại là một bài blog hơi luẩn quẩn và hy vọng bạn sẽ giúp tôi làm rõ hơn những gì luẩn quẩn trong đầu tôi.
———————————-
Một cách chung chung nhất, TCP và UDP là hai giao thức (quy định cách thức giao tiếp) mạng phổ biến trên Internet. Để truyền thông tin đi trên mạng, người ta chia nhỏ thông tin ra thành nhiều phần. Việc này giống như khi bạn chuyển nhà, nếu bạn có ô tô to, bạn có thể chuyển tất cả đồ đạc đi trong một chuyến. Nếu không có ô tô mà chỉ có xe máy hoặc xích lô, bạn có thể chia nhỏ đồ đạc ra thành nhiều chuyến và chuyển dần đi. Nói chung, giao thức hay bất cứ thứ gì xuất hiện thường sẽ dễ tồn tại hơn nếu được nhiều người sử dụng hơn, do vậy thông tin trên Internet cũng được chia nhỏ để truyền đi cho phù hợp với nhiều môi trường mạng và tốc độ khác nhau.
Cơ động là lợi thế của việc chia nhỏ, tuy vậy vấn đề lớn nhất của việc chia nhỏ là làm sao sau khi chia nhỏ và chuyển tới đích, chúng ta giữ nguyên hiện trạng thông tin/vật được truyền đi. Tôi chuyển 100 chiếc đĩa CD từ nhà cũ sang nhà mới và khi đến nhà mới thì chỉ còn 50 chiếc thì thật không chấp nhận được phải không? Đây là điểm khác biệt chính giữa TCP và UDP.
Với UDP, bạn chấp nhận mất mát để đảm bảo tốc độ. Ví dụ như các phần mềm streaming sẽ sử dụng UDP. Bạn có thể mất đi một vài khung hình nhưng bù lại đảm bảo tốc độ để bộ phim đang xem online không bị giật hình.
Với TCP, tính toàn vẹn quan trọng hơn tốc độ. Tôi chấp nhận rằng có thể tôi đi bộ và cầm theo đống đĩa CD từ nhà cũ sang nhà mới cũng được, nhưng 100 cái đĩa quý của tôi không được phép sứt mẻ tẹo nào.
(bản quyền hình và các thông tin thêm về TCP vs UDP có thể xem tại đây)
———————————-
Một người bạn làm trong ngành FMCG đã có lần chia sẻ với tôi rằng càng ngày thì việc quyết định xem hàng của bạn ý có bán được hay không sẽ không phải do nhà sản xuất quyết định mà là do … siêu thị (chỗ trưng hàng) quyết định. Bạn làm đủ mọi cách để người mua biết tới nhãn hàng của bạn nhưng toàn bộ siêu thị xung quanh người mua lại trưng hàng của đối thủ thì bạn cũng khó lòng chống đỡ được.
Long Tail có tầm quan trọng đặc biệt trong việc cải thiện khả năng trưng hàng của bạn. Tất nhiên không phải mặt hàng nào cũng có thể áp dụng Long Tail được. Mặt hàng đó phải có khả năng dễ dàng tìm kiếm, chi phí vật lý lưu trữ mặt hàng đó phải rẻ tới cực rẻ … Do vậy, thường những mặt hàng online sẽ dễ dàng thỏa mãn điều kiện này hơn. Amazon giải quyết bài toán này với các mặt hàng offline (sách) bằng cách số hóa chúng để lưu trữ và in ra khi người sử dụng cần.
Long Tail cũng có tầm quan trọng đặc biệt đối với các website bán các mặt hàng trực tuyến, ví dụ như bán nhạc số, bán phim số … Website tổng hợp thông tin (như Google News, Yahoo News, Baomoi…) hay Social News (như Digg, Mixx, Linkhay…) không phải là ngoại lệ trong số này. Nếu xét một cách thô thiển traffic của người dùng (lượt views) là đơn vị tiền tệ của các website liên quan tới thông tin, bạn có hai cách để làm tăng traffic : show ít tin nhưng mỗi một tin có nhiều người đọc (big head-tin hot) hoặc mỗi một tin của bạn có ít người đọc nhưng lại có nhiều tin được đọc (long tail-tin chuyên ngành). Ở đây xin bỏ qua khía cạnh show hàng cho Search Engine vì đấy lại là câu chuyện hơi khác có liên quan tới SEO, Content Farms… Đứng từ khía cạnh người sử dụng, mặc xác ông ba hoa gì thì tôi cũng chỉ quan tâm tới những gì tôi thích, vì vậy ông làm thế nào chỉ ra cho tôi cái tôi thích thì tôi sẽ đọc. Với các trang thông tin thì cái người dùng thích không chắc đã phải là cái mới nhất đối với người dùng. Ví dụ, một bài báo về chuyên ngành cách đây 1 tuần mà tôi chưa đọc thì vẫn mới toanh đối với tôi, nhưng thông tin về chứng khoán cách đây 1 tuần thì chả có ý nghĩa gì cả.
(bản quyền hình của Edgewater Tech Blog)
———————————-
Mạng xã hội xuất hiện kéo theo việc thể hiện thông tin theo kiểu stream. (*)Real-time stream giống y hệt như việc bạn đứng trên vỉa hè của đường một chiều và nhìn mọi người đi qua bạn lần lượt lần lượt. Ai quen, ai bạn thấy thích thì bạn chào, bạn nói chuyện, ai không quen, không thích thì bạn bỏ qua. Đọc tin trên Baomoi chả hạn, với cỡ 6000 tin một ngày thì chắc chắn không phải tin nào bạn cũng quan tâm (mà thậm chí chắc chưa tới 5% số tin là bạn quan tâm), nếu thể hiện theo kiểu stream thì bạn cứ để thông tin ào ào qua, tin nào hay thì bạn click.
Facebook trong một chừng mực nào đó thì lại khác. Bạn như một ông cha cố trong một cái làng be bé, chờ từng con chiên một đi qua để xưng tội. Ai bạn cũng quan tâm/phải quan tâm. Bạn có quyền không đưa ra lời khuyên gì cả cho những lời xưng tội đó, thế nhưng nếu bạn không đưa ra lời khuyên, có thể tuần sau, tháng sau… con chiên của bạn sẽ sang xưng tội ở … làng bên cạnh. Bạn có thể add một đống người, nhưng rồi bạn sẽ remove người đó đi nếu bạn không giao tiếp với người ta. Bạn có thấy bóng dáng của TCP vs UDP ở đây không?
———————————-
Vậy rốt cuộc, điều đáng lo lắng ở đây là gì? Là khi xu hướng real-time stream phát triển, liệu còn chỗ để show những mặt hàng cũ nhưng có giá trị với người dùng hay không? Nếu còn, show như thế nào? Giống như siêu thị chỉ có một lượng cố định chỗ để bày hàng, con người cũng chỉ có một lượng thời gian cố định trong ngày (24h/ngày, 24x60x60 giây/ngày) để xử lý thông tin.
Đây là chỗ mắc mớ và từng trường hợp một sẽ có câu trả lời khác nhau. List các điều nho nhỏ tôi nghĩ liên quan tới việc này (xét riêng đối với mặt hàng là tin tức) để có gì blog tiếp (có thể đúng, có thể sai):
- Real-time và mới là hai khái niệm khác nhau. Đương nhiên người ta nghĩ và hy vọng rằng real-time là tiếp nhận các thông tin mới một cách liên tục, nhưng mới với người này không có nghĩa là mới với người khác.
- Tùy từng loại thông tin mà giá trị của nó là khác nhau. Có những loại thông tin nếu không mới thì chẳng có giá trị với số đông (1), có loại thì không mới vẫn có giá trị với số đông(2), có loại thông tin không mới thì chỉ có giá trị với thiểu số(3). Tin tức hầu như thuộc loại (1) và một ít là thuộc loại (3).
- Real-time không phải là không search được nhưng càng real-time thì sẽ càng không có đất sống cho search(?).
- Càng chấp nhận real-time, có nghĩa là càng chấp nhận có nhiều thông tin sẽ mất (giống UDP). Hy sinh thời gian kiểm chứng và tìm tòi thông tin cho việc hưởng thụ các thông tin có sẵn.
- Đơn vị thông tin càng chia nhỏ (bài viết – đoạn viết – twit) thì dường như giá trị sẽ giảm nhanh hơn theo thời gian. Bù lại, đơn vị thông tin nhỏ không hề làm giảm đi tính quan trọng của nó.
- Khó lòng để đoán được ngữ cảnh của stream, do vậy việc xác định và thêm thông tin (bài viết, quảng cáo) phù hợp với stream là việc khó khăn.
- Real-time vẫn phù hợp với Long Tail vì từng nhóm người khác nhau sẽ có những nhu cầu cập nhật thông tin khác nhau (via @Tai Tran).
- Có thể thay đổi thứ tự của thông tin hiện ra trên real-time stream (nếu việc thay đổi này vẫn đảm bảo giá trị của thông tin) (via @Tai Tran).
———————————-
Update 4Jan2010 : (*) Chỗ này chắc phải là Public Stream thì mới nói như thế được vì nếu theo giải thích về Real-Time ở đây thì Real-Time Web phải có một thuộc tính là “is public and has an explicit social graph associated with it“. Đã có social graph dính vô là phải có quen biết nhất định rồi.








Recent Comments