Social Media Marketing và The Long Tail

(Suy nghĩ này lâu lắm rồi, draft cũng lâu rồi mà thực ra chẳng biết viết thế nào. Chỉ là suy nghĩ, thôi cứ note ra đây được bao nhiêu thì được. Bài này vừa viết vừa nghĩ, không chắc đã ra gì.)

Web 2.0 và Social Media làm cho ai cũng trở thành marketer. Thực ra, nói cho cùng ai cũng là marketer. Cho cái gì? Cho chính bản thân mình. Thay vì việc kể một câu chuyện về sản phẩm, nếu xem film bạn sẽ thấy cách để người ta đến với nhau dễ nhất là kể các câu chuyện của bản thân cho nhau nghe -> đồng cảm.

Traditional & Interruption Makerting cũng cố gắng kể những câu chuyện cho người mua. Tuy vậy, không phải câu chuyện nào cũng thành công. Và cũng không phải câu chuyện thành công nào cũng tồn tại lâu được. Tuy nhiên, những người đã kể những câu chuyện thành công thực sự là những người rất đáng ngưỡng mộ.

Internet, Web 2.0, S.M và những gì tiếp theo nữa làm cho việc kể chuyện ngày càng trở nên khó khăn hơn. Khách hàng của bạn giao tiếp với nhau liên tục, có khả năng kiểm chứng và có đầy đủ các thông tin kiểm chứng câu chuyện của bạn. Cách tốt nhất (chứ không phải là dễ nhất, cách này thậm chí khó hơn rất nhiều so với việc interrupt khách hàng) là bạn để cho khách hàng tự kể những câu chuyện của mình cho nhau.

Đó là điều mà tôi nghĩ về The Long Tail. Trước đây, bạn bổ vào đầu khách hàng thông điệp của bạn. Từ một nguồn duy nhất và có kiểm soát (công ty của bạn). Giờ những thông điệp marketing của bạn bị phân tán khắp nơi bởi khách hàng của bạn. Và bạn không kiểm soát được nó. Cùng lắm bạn chỉ định hướng được nó.

Nếu xét trên mức độ ảnh hưởng tới khách hàng, nhiều nguồn truyền thông điệp nhỏ có giá trị ~ một nguồn truyền thông điệp lớn.

(Src : Wikipedia)

Còn nhiều ví dụ nữa về Big Head và Long Tail đối với Mkt ở thời điểm này. Tôi ví dụ nhé :

Big Head : Banner trên các trang web có mức độ truy cập cao vs Long Tail : Back link tới blog của bạn từ rất nhiều các blog khác

Big Head : Nhãn hàng một quý mới có một chiến dịch vs Long Tail : liên tục có các chiến dịch nhỏ đều đặn

Big Head : Tổ chức event (tính cả cà phê cà pháo nhé) vs Long Tail : Twit trao đổi liên tục

….

Bạn có thể phản đối rằng nếu vậy thì thực ra ngay từ thời xa xưa chúng ta cũng đã dùng phương pháp truyền miệng rồi đấy chứ. Tuy nhiên, phương pháp truyền miệng trước thời Internet có một điều cản trở không phù hợp với mô hình Long Tail : không search được. Bà A nói với bà B, ông C không có mặt ở đó sẽ khỏi phải xem lại mà cùng lắm thì chỉ nghe lại được từ ông D. Còn bây giờ trên Internet mọi thứ đều search được. Search ra tới gốc luôn và khi bạn đọc/xem ý kiến gốc của một ai đó, bạn sẽ tin tưởng vào điều bạn được xem hơn là nghe qua tai 10 người khác nhau.

Vậy thế thôi, khỏi cần agency lớn nữa, khỏi cần băm chặt trên TV nữa, khỏi cần làm gì nữa, cứ để khách hàng nói với nhau là đủ? Crowdsourcing chiến dịch của bạn đi, làm như nó giống wiki đi?

Rất khó. Bởi mục tiêu của khách hàng và của bạn là khác nhau (cho dù tổng cộng thì hiệu ứng về việc khách hàng nói hay là bạn chiếu quảng cáo trên TV là bằng nhau). Thêm nữa, chiến dịch Mkt của bạn không thể tách nhỏ ra thành nhiều phần để ai tham gia lúc nào cũng được, một điều cốt lõi của Wiki.

Cho tới giờ tôi cũng không biết nên làm gì để biến những suy nghĩ chém gió ở trên thành hiện thực. Không thể ra đường và nói với tất cả mọi người rằng : Hey, tôi có một sản phẩm mới toanh này, hãy nói về nó đi các bạn. Mà cho dù mọi người có nói, ai cũng sẽ cảm thấy không vui khi nhận ra rằng hóa ra mình đang là cái loa cho người khác. Đấy cũng là một điểm tiếp theo khiến chiến dịch của bạn không thể thực hiện theo kiểu làm Wiki được, bởi những user trong wiki sửa wiki là để phục vụ cho chính bản thân họ trước khi phục vụ cho cộng đồng.

Chắc tôi vẫn phải kể một câu chuyện, và câu chuyện đó có thể được thêm thắt tiếp tục bởi những người khác.

“Reconnect with…”, cách Facebook sẽ phá vỡ số Dunbar?

Nghĩ một hồi về Facebook, lòng vòng thế nào lại nghĩ tới việc ăn cưới chùa. Thế nên nói về cái này trước. Ăn cưới chùa nôm na là ăn cưới không có quà mừng cô dâu chú rể. Thường thì bạn bè người thân họ hàng ai cũng sẽ có quà mừng, không thì phong bao. Nếu ai lỡ không có điều kiện thì cũng cố gắng phong bao ít ít. Thế nhưng lại có những người chuyên đi ăn đám cưới chùa. Họ ăn mặc rất lịch sự để đi ăn cưới. Nhà gái thì lại nghĩ là khách của nhà trai, nhà trai thì lại nghĩ là khách của nhà gái. Phong bì thì bỏ đầy giấy lộn rồi đương nhiên ngồi ăn. Ít thôi, ít lắm lắm luôn. Nhưng mà có.

—————————————————

Tôi có một thói quen, một thói tò mò là hay quan sát người khác. Có một hai lần rảnh lắm lắm không có chuyện gì làm thì ra đầu ngõ ngồi uống nước trà. Bà bán nước trà bị câm, khách cũng đủ loại thành phần. Nhưng nghe họ nói chuyện rất vui. Thế là đủ. Chẳng cần mình nói gì. (Nó giống với việc add Twitter của một ai đó hay ho mà mình chẳng cần nói gì, chỉ cần nghe người ta là đủ thấy vui). Ngày xưa từ hồi có Y!360 đã phát huy cái tính này mà chính ra lại kiếm được bao nhiêu bạn tốt (về sau có cả room-mate luôn). Đến khi Facebook ra đời cũng vậy. Thấy ai hay ho thì lại add. Không nhất thiết bạn phải nổi tiếng (nếu bạn nổi tiếng, tôi sẽ đưa bạn vào list riêng – Online Celeb hẳn hoi nhé :D ), chỉ cần bạn có cái gì đó hay hay là tôi lại muốn “nghe”, muốn xem bạn bạn nghĩ gì, bạn làm gì, bạn nghĩ khác tôi nghĩ như thế nào. Thế nên, giờ Facebook có hơn 800 bạn mà chắc chỉ biết được 1/3 số người trong đó. 2/3 số người không biết tôi thì tôi cũng không hiểu tại sao họ add mình. Thế nên mới liên tưởng tới những người đi đám cưới chùa. [Read more...]

Blog vs Forum : chuyện xưa nói mãi chưa nhàm…

Thực ra, nếu bây giờ mà nhắc tới forum thì sẽ có nhiều bạn hi-tech và thích thử nghiệm theo các xu hướng mới sẽ bảo tôi “Ôi, cái này cũ rích rồi ý, nhắc tới làm gì”. Thế nhưng, nếu nhìn vào cái time-line mà tôi vẽ tạm ra trong bài trước, chắc chắn các bạn nói câu này sẽ phải ngạc nhiên khi hầu hết tất cả các forum được liệt kê vẫn còn sống, một số forum như Vn-zoom, DDTH, vozForum, Tinhte (chưa kể tới 5giay.vn) … lại còn phát triển mạnh là đằng khác.

Theo khảo sát độc lập được thực hiện vừa qua với hơn 1300 mẫu trả lời với các độ tuổi khác nhau, tỷ lệ quan tâm tới forum cũng khá cao. Chỉ có 10% số người được hỏi trả lời rằng họ không quan tâm tới forum nữa trong khi 19% được hỏi cho biết vẫn thường xuyên tạo topic mới trong forum(!).

Forum o Vietnam

Việc nói lại sự khác nhau giữa Blog và Forum xuất phát từ việc tôi khá ngạc nhiên khi Forrester đã không xếp bất cứ một hành động nào liên quan tới Forum vào nhóm Creator (là nhóm được mô tả : Creators are people who generate content. This can range from writing blog posts and wiki entries to creating and uploading videos on YouTube. Creators are the true value adders of the web. They make the stuff everyone else comments on.) mà lại được xếp vào nhóm Critics (là nhóm được mô tả : Critics are users who rank and review products, web posts, pictures, videos or anything else. They play a key role in influencing what products people buy, what videos people watch, and what competitive events they will enter – Theo Compete-at.com) :

2009-10-27_1452

Vậy blog và forum khác nhau cái gì mà lại bị phân biệt đối xử như thế? Có thể nhận thấy rõ là blog thường đóng đinh vào một chủ đề nhất định, người viết thường mất công sức nhiều vào để đầu tư cho chủ đề của mình và các comment có ý kiến bổ sung/phản bác/đồng tình nhưng hiếm khi đi ra ngoài chủ đề ban đầu này. Trong khi đó, chủ đề trên forum có thể được thay đổi nhanh chóng sau một vài thảo luận. Đối với những topic dài, mọi người lật qua 3 trang đã có thể thấy chủ đề thảo luận ở chỗ đó khác hẳn với chủ đề thảo luận của 3 trang trước đây và có thể chỉ dính líu một tí ti tới chủ đề chính ban đầu. Người tạo ra chủ đề trên forum cũng khó kiểm soát được cuộc thảo luận hơn.

Một số ý kiến khác (tại đây, tại đâytại đây) còn cho rằng comment không phải là yếu tố chính cần quan tâm của blog mà vấn đề chính khi tạo ra blog là người viết nó muốn thể hiện chính kiến riêng của bản thân. Bạn có thể nói rằng ok, ở trên forum người đó cũng giữ được chính kiến riêng của bản thân chứ? Thế nhưng, nôm na mà nói thì blog giống như cửa hàng ăn uống riêng, bạn bước vào đó và biết rằng bạn sẽ ăn đồ của cửa hàng đó, sẽ nhận được sự phục vụ và cảm giác mà cửa hàng đó mang lại, túm lại là có thương hiệu riêng rõ ràng. Trong khi đó, forum giống như bạn bước vào Food Court và đương nhiên bạn có thể ngồi chỗ này ăn món chỗ khác, lúc này việc nhận diện là khó khăn hơn nhiều. Tất cả những lý do trên phải chăng đã làm cho Forrester đi tới quyết định rằng các hành vi contribute cho forum là thuộc nhóm critic?

Đẩy xa hơn một chút, tôi suy nghĩ tới các social bookmarking site hiện tại ở Việt Nam. Do có lẽ không có thói quen collecting theo hướng social mà các site này (đặc biệt có thể thấy rõ tại LinkHay) có xu hướng thể hiện theo chiều hướng forum (post một chủ đề lên để bình luận, vote cho chủ đề đó để đẩy nó lên bình luận, vào đó để xem bình luận về tin tức nhiều hơn là xem bản thân tin tức đó và cuối cùng là đôi khi bình luận có thể đi ra ngoài chủ đề, hoặc đơn giản là chỉ cần có một chủ đề để bình luận…). Đó là sự lệch hướng hay sự kết hợp, localization để phù hợp với thói quen người sử dụng tại VN? Tôi cũng không rõ.

Update 1 : bạn @anhhung đã chỉnh lại hộ rằng LinkHay là Social News chứ không phải Social Bookmarking Site. Do vậy đoạn trên nói về LinkHay đã kết luận vội vàng, không chính xác. User vào các site này không phải là collecting news mà còn contribute bằng việc post, vote… Tuy vậy, tôi vẫn giữ nguyên quan điểm của mình về việc các site này thể hiện theo chiều hướng forum.

3 đợt sóng ảnh hưởng tới Technographic Việt Nam

Dùng chữ sóng nghe cứ như chỉ số chứng khoán :D . Các nhà nghiên cứu tại Forrester đã rất hay khi sử dụng thuật ngữ Groundswell cho sự phát triển của Web Application. Groundswell được định nghĩa một cách tổng quát hơn, tránh sự nhập nhằng biên giới giữa Web 1.0 và Web 2.0, giữa Mass Media và Social Media :

Groundswell is a trend, a spontaneous movement of people using online tools to connect, take charge of their own experience, and get what they need – information, support, ideas, products, and bargaining power – from each other.

Với cách nhìn này thì Groundswell sẽ bao gồm blog, wiki, podcast, mạng xã hội … cho tới cả forum. Nói một cách ngắn họn hơn thì :

Groundswell is a social trend which is people use technologies to get the things they need from each other instead of from companies.

Để cách công ty có thể tiếp cận Groundswell một cách hợp lý và có lợi nhất cho mình, Forrester tiếp tục đưa ra một cách tiếp cận theo hệ thống được gọi là POST (xem thêm về POST ở đây) :

post_method_2

Đối với POST, People phải được đặt lên hàng đầu. Ở đây có một câu hỏi tại sao Objective không được đặt lên hàng đầu mà lại là People? [Read more...]

Tăng Sâm giết người…

Tăng Sâm Giết Người

Ông Tăng Sâm ở đất Phị ở đấy có kẻ trùng danh với ông giết chết người.

Một người hớt hãi chạy đến báo mẹ ông Tăng Sâm rằng: “Tăng Sâm giết người.” Bà mẹ nói: “Chẳng khi nào con ta lại giết người.” Rồi bà điềm nhiên ngồi dệt cửi.

Một lúc lại có người đến bảo: “Tăng Sâm giết người.” Bà mẹ không nói gì, cứ điềm nhiên dệt cửi.

Một lúc lại có người đến bảo: “Tăng Sâm giết người.” Bà mẹ sợ cuống, quăng thoi, trèo qua tường chạy trốn.

—-

Đứa con là do mình đẻ ra, mình uốn nắn, mình tin tưởng hàng ngày. Vậy mà còn bị dư luận làm cho điên đảo.

—-

Có hai câu này, đọc được trong Groundswell của Ricardo Guimarães :

The value of a brand belongs to the market, and not to the company. The company in this sense is a tool to create value for the brand… Brand in this sense – it lives outside the company, not in the company“.

Ngập ngừng suy nghĩ, ngập ngừng phải đối. Brand cũng giống như đứa con mình đẻ ra. “Cha mẹ sinh con, trời sinh tính”. Mình đẻ ra, mình mong muốn là một chuyện, còn việc nó phát triển thế nào, nó lớn lên như thế nào, nó nhận thức về xã hội như thế nào và xã hội nhận thức về nó như thế nào, không phải do mình tự quyết định được. Vậy nên hai câu đó không có gì phải lăn tăn chứ?

—-
What a superb kick!

Lăn tăn ở chỗ, brand không phải đứa con thật. Khả năng nói với xã hội của nó và khả năng nhận feedback của xã hội là kém. Nói cách khác, nó không phải vật thể sống mà nó chỉ sống nhờ những người yêu thương/ghét bỏ nó (bao gồm cả mình và xã hội). Nó không tự lớn lên, nó không tự sửa đổi khi ra đường làm sai bị xã hội sỉ vả. Đấy là mình tự lớn lên, mình sửa đổi nó (mình là người quản lý brand). Vậy nên, “it lives outside the company more than in the company” thì đúng hơn.

“Ai cũng có thể làm Marketing…”

Tôi viết bài này một phần để trả lời cho comment của Seri trong bài viết trước của tôi : “Bạn chọn gì : Real-time hay Real-life“, một phần cũng vì cảm hứng viết lách bất chợt nổi lên sau khi xem lại Ratatouille. Đó vẫn là bộ phim của Pixar ưa thích nhất của tôi cho tới thời điểm này.

ratatouille5

Có lẽ, lời kết của Anton Ego là lời đáng giá nhất trong film này.  Một nhân vật tưởng chừng như sẽ bị ghét như bếp trưởng nhỏ mọn (và nhỏ con) Linguini nhưng đến cuối phim lại thể hiện được cái “chất” thực sự của mình. Xin copy ra đây nguyên văn lời bình sau khi ăn xong món Ratatouille do chú chuột nấu, một lời bình đáng giá ít nhất là 1/3 bộ phim theo ý kiến của bản thân tôi :

In many ways, the work of a critic is easy. We risk very little yet enjoy a position over those who offer up their work and their selves to our judgment. We thrive on negative criticism, which is fun to write and to read. But the bitter truth we critics must face, is that in the grand scheme of things, the average piece of junk is probably more meaningful than our criticism designating it so. But there are times when a critic truly risks something, and that is in the discovery and defense of the new. The world is often unkind to new talent, new creations, the new needs friends. Last night, I experienced something new, an extraordinary meal from a singularly unexpected source. To say that both the meal and its maker have challenged my preconceptions about fine cooking is a gross understatement. They have rocked me to my core. In the past, I have made no secret of my disdain for Chef Gusteau’s famous motto: Anyone can cook. But I realize, only now do I truly understand what he meant. Not everyone can become a great artist, but a great artist can come from anywhere. It is difficult to imagine more humble origins than those of the genius now cooking at Gusteau’s, who is, in this critic’s opinion, nothing less than the finest chef in France. I will be returning to Gusteau’s soon, hungry for more.

(Anton Ego)

——–

Cái giỏi của Twitter, của Facebook không chỉ dừng lại ở đội ngũ Marketing của họ mà ở chính việc họ đã làm rất tốt cái việc cung cấp công cụ, truyền cảm hứng cho người sử dụng và thì thào vào tai họ “Ai cũng có thể làm Marketing … cho Facebook, cho Twitter“. Người sử dụng chỉ phải đối mặt với những vấn đề nhỏ hơn chú chuột trong film rất nhiều. Họ có sẵn mọi thứ để tin vào điều mà Twitter, Facebook thì thào với họ. Họ chỉ việc chơi, chỉ việc share photo, chỉ việc nói lên suy nghĩ của mình, tạo ra sự chú ý và tạo ra những cuộc thảo luận của với bạn của mình. Suy cho cùng, ai cũng đang làm Marketing cho bản thân mình (đương nhiên tôi cũng vậy), có điều mọi người có nhận thức về điều đó hay không mà thôi. Đừng nhìn nhận đó là một điều xấu, nói đúng về mình không phải dễ và nói để mọi người có thể hiểu được message mình truyền ra thì lại là một điều rất tốt.

——–

“Ai cũng có thể làm Marketing…”. Tôi tin vào điều này giống như chú chuột và sau này là nhà phê bình Ego đã tin lời bếp trưởng Gasteau nói “Anyone can cook”. Bạn có thể bảo rằng tôi đang quá mơ mộng, thế nhưng tôi cho rằng những người thực tế nhất ở trong team của chúng tôi (với sản phẩm Baomoi.com và một vài sản phẩm khác) cũng có phần mơ mộng. Cho đến bây giờ sự mơ mộng đó cũng đáng giá đấy chứ, càng ngày càng có nhiều người yêu thích sản phẩm của chúng tôi và chúng tôi có thể tự hào rằng sự yêu thích đó xuất phát từ phần lớn hơn cả là do sự mơ mộng muốn mang lại cái có ích cho độc giả. Vì vậy, tại sao không tiếp tục mơ mộng? Ratatouilee là một món ăn bình dân nhưng chính món ăn này lại khiến cho nhà phê bình Ego phải sững sờ. Vậy tại sao không cố gắng diễn tả mọi thứ thật bình dân, thật dễ hiểu để ai cũng có thể áp dụng được, để ai cũng có thể làm marketing, ai cũng có thể sử dụng Social Network, Social Media để tạo ra những giá trị cho bản thân mình, cho doanh nghiệp mình? Trong 6 tháng tới, tôi hy vọng mình cùng bạn bè có thể làm gì đó với cái wiki nho nhỏ được đặt tại đây (http://wiki.socialmediavietnam.com ). Thật đơn giản, thật dễ hiểu và không chỉ trích (bởi chắc rằng tôi chẳng thể nói được hay như Ego sau khi đã trót chỉ trích quá nhiều), bất cứ ai cũng có thể join và bất cứ ai cũng có thể sử dụng những gì trong đó để cho công việc của mình, cho niềm tin “Mình cũng có thể làm Marketing, mình cũng có thể hiểu và sử dụng được Social Network, Social Media…”

——–

Vậy đấy, hãy mơ mộng cùng tôi nào…

Ai mua “Twit” tôi?

Đây là bài viết thứ 4 trong loạt bài với chủ đề “Social Media – Giá của sự miễn phí“.

Tên của bài viết này được copy từ câu rao nổi tiếng trong truyện cổ tích Việt Nam mà tôi rất thích, truyện “Ai mua hành tôi” (hay còn có tên là Lọ nước thần). Người vợ vì quá xinh đẹp nên đã bị vua/quan phủ bắt mất và người chồng phải đi gánh hành đi bán khắp nơi, với mục đích chủ yếu là tìm vợ.

Twitter là một trong những thành phần không thể thiếu được của Social Media. Có khá nhiều tranh luận về việc Twitter có phải là mạng xã hội hay không do sự khác biệt đặc thù của nó đối với các mạng xã hội khác, nhưng rõ ràng có một điều là bản thân Twitter đang miễn phí và mọi người thì lại đang … kiếm tiền trên Twitter. Không hiểu founder của Twitter sẽ phải đi rao cái gì để có thể tìm được mục tiêu chính của mình – tiền để tồn tại và phát triển được sinh ra từ chính Twitter.

Bài đầu tiên tôi đã viết về sự thành công của Dell khi sử dụng Twitter. Đó rõ ràng là một case study tiêu biểu của nhà sản xuất khi sử dụng Twitter. Tuy vậy, trong bài này chúng ta sẽ xem xét tới khía cạnh của người tiêu dùng, người sử dụng Twitter bình thường. Họ có thể kiếm lời khi sử dụng Twitter hay không?

Nếu Twitter là tiếng chim hót lảnh lót thì Magpie là con chim ác là hay nghĩa bóng là người ba hoa. Be-a-magpie là mô hình cho phép người sử dụng bán twit của mình cho người cần quảng cáo.

magpie_sketch_01

Mô hình hoạt động của Magpie được thể hiện khá rõ trên hình. Người cần quảng cáo sẽ đưa thông tin quảng cáo cho Magpie, Magpie sẽ tự động chọn ra người sử dụng hợp lý (contextual ads) và sẽ chèn một câu twit quảng cáo vào trong stream của người sử dụng. Người sử dụng được phép chọn tần suất chèn quảng cáo, cách thức tính tiền (cứ chèn vào là lấy tiền – giống CPM, khi bạn của anh ta click vào thì mới tính tiền – giống CPC, khi tạo ra lead/sale mới tính tiền – giống CPA). Đây dường như là một cách làm khá tốt vì khi sử dụng contextual ads, quảng cáo hiện ra sẽ tương đối liên quan tới người sử dụng Magpie -> khả năng mà mạng của anh ta, những người quan tâm tới Twit của anh ta quan tâm là cao.

Nghe có vẻ khá hấp dẫn, phải không bạn? Thậm chí, người sử dụng có thể kiểm tra xem tối đa mình có thể kiếm được bao nhiêu tiền một tháng ngay trên trang Magpie.

2009-08-05_0849

Bạn sẽ hỏi tôi, vậy Twitter có lợi lộc gì ở đây? Nếu thực sự đây là một mô hình tốt, Twitter có thể thu phí của Magpie (theo gói hoặc theo % số tiền người sử dụng Magpie nhận được). Tuy vậy, Magpie không phải không có những vấn đề của mình [Read more...]

Trì hoãn, sở hữu, lựa chọn và giá của bạn trên Twitter…

Dare to escape the fear?

Đầu tuần đã phát khùng lên với các ISP (FPT và VDC). Ngồi ở công ty xài GPRS còn nhanh hơn cả ADSL. Thật không thể tưởng tượng được. Đành lôi cuốn “Phi lý trí” ra đọc tiếp. Chương 6,7,8 khá hay và làm mình nghĩ đến Twitter.

Chương 6 nói về các vấn đề liên quan tới Sự trì hoãn và tự kiểm soát. Procrastination có gốc Latin được ghép bởi pro – cho/cras – ngày mai. Kết luận đầu tiên là :

Từ bỏ các mục tiêu lâu dài vì sự thỏa mãn tức thời chính là sự trì hoãn

Thông qua thí nghiệm của mình, tác gỉả đưa ra kết luận rằng hạn chế quyền tự do của con người về một lĩnh vực gì đó là cách tốt nhất để chữa trị căn bệnh trì hoãn của bản thân họ. Tuy vậy, nếu không hạn chế được thì cung cấp cho họ một công cụ giúp họ có thể loại bỏ sự trì hoãn (ví dụ cam kết về deadline) cũng sẽ giúp họ đạt được kết quả tốt hơn.

Tác gỉả cũng cho rằng khi “giọng nói bên ngoài” đưa ra mệnh lệnh, chúng ta sẽ có sự chú ý tốt hơn (có lẽ do chúng ta hay bao biện và luôn tự xoa dịu bản thân mình).

Chương 7 nói về sự sở hữu. Một cách tương đối, chúng ta luôn đánh giá cao hơn mức norm về những gì chúng ta đang sở hữu.

…sở hữu chỉ đơn giản là thay đổi quan điểm của chúng ta. Đột nhiên quay trở về trạng thái trước sở hữu là một mất mát mà chúng ta không thể tuân theo. Vì thế trong cuộc đời, chúng ta tự nuông chiều mình với ảo tưởng rằng chúng ta luôn có thể điều chỉnh bản thân để trở về chỗ cũ nếu cần; nhưng thực tế, chúng ta không thể.

Chương 8 nói về sự lựa chọn. Chương này có nhiều quan điểm cùng với cuốn “Nghịch lý của sự lựa chọn” nhưng ngắn gọn và dễ đọc hơn. Chúng ta thường sa đà vào các sự lựa chọn và không xác định đúng được giá trị của sự lựa chọn.

Ngày nay, chúng ta dốc hết sức lực để giữ tất cả các cơ hội mở ra cho mình… mua một chiếc xe SUV sang trọng không phải vì muốn lướt trên các đường cao tốc mà chỉ để phòng khi chúng ta muốn lau chùi gầm xe.

…trong bối cảnh đơn giản với một mục tiêu rõ ràng, tất cả chúng ta đều thành thạo khi theo đuổi những thứ đem lại cho chúng ta cảm giác thỏa mãn…

…đã bao nhiêu lần chúng ta mua một món hàng hạ giá không phải vì chúng ta cần nó mà bởi vì sau đợt hạ giá thì chúng ta sẽ không bao giờ mua được với giá đó nữa?

——————————————————————

Hôm nọ, có một bài viết về Danh sách 20 người Việt dùng Twitter bạn nên follow, trong đó có tên tôi. Có vui không? [Read more...]

Sex, call girl và Social Media

 

(Pix of -Andrew- Under Creative Common License)

Tất nhiên thì cái title trên là để câu khách và SEO, nhưng mà tôi thực sự sẽ nói tới những cô gái bán mình trong bài viết này. Có thể vì lý do này lý do kia, hoàn cảnh khó khăn mà một cô gái phải bước vào nghề này nhưng tôi tin rằng đó thực sự là một công việc cần phải suy nghĩ nghiêm túc. Bài viết này không có bất cứ ý gì xúc phạm tới những cô gái bán mình, nếu vô tình mà có, đó là do lỗi của tác giả đã không thể hiện được chính xác ý tưởng của mình.

——– [Read more...]

Suy nghĩ linh tinh về trò chơi liên quan tới bóng…

Cái này có cảm giác là đã đọc được ở đâu đó (tức là không phải mình nghĩ ra) nhưng không nhớ rõ nguồn. Vì vậy nếu ai biết nguồn xin bổ xung.

Những trò chơi liên quan tới bóng (ví dụ bóng đá, bóng rổ, bóng bàn, tennis rồi biến thể là cầu lông…) có một đặc điểm chung là người thắng cuộc là người đẩy được quả bóng sang bên đối phương. Hãy nghĩ xem, người thắng là người sút được nhiều bóng vào cầu môn hơn, người nhét được nhiều bóng vào rổ hơn, đập được nhiều cầu sang bên sân đối phương hơn. Kẻ thua là kẻ có nhiều bóng.

Đúng ra, trái bóng phải là một vật bị ghét vô cùng vì chả ai muốn có nó (tức là bị thua). Thế nhưng, ai khi bắt đầu chơi những trò này đều phải “làm quen với bóng” và tôi chắc chắn bạn sẽ nghe bình luận viên nói rất nhiều về chữ “cảm giác bóng”.

Trong cuộc sống, có những gì chúng ta phải làm quen và phải luôn giữ “cảm giác” về nó nếu muốn là người thắng cuộc?