Meme và Memetic

Lần trước ở 5Desire tháng 4 có cơ hội được nói về Meme. Tuy vậy lần đó chưa có cơ hội được trao đổi nhiều, về nhà muốn viết blog mà một phần thì bận bịu, một phần thì thấy mình hiểu biết cũng chưa đủ sâu để viết nên cứ chần chừ. Giờ nghĩ đi nghĩ lại thấy thôi cứ viết, thiếu thì thêm, sai thì sửa còn hơn giữ mãi trong đầu không thoát ra được  :mrgreen:

Thuật ngữ “meme” được nhắc tới chính thức trong cuốn The Selfish Gene của Richard Dawkins (cuốn này mới đây được dịch ra tiếng Việt với tên “Gen vị kỷ“). Dawkins định nghĩa “meme” là “unit of cultural inheritance“ (dịch thô : đơn vị/thành phần văn hóa có thể kế thừa/di truyền). Lấy ví dụ về việc người đầu tiên biết dùng lửa và sau đó dậy cho những người khác biết dùng lửa, tiếp đến những thế hệ sau bị “cấy” vào đầu thông tin thức ăn thì phải dùng lửa mới ngon, Dawkins mở rộng ra với các mẫu thời trang, với truyện cười dân gian, ca dao, tục ngữ, tin đồn …  Trong cuốn Meme Machine của Susan Blackmore, tác giả đã chỉ ra sự khác biệt giữa các mẩu thông tin/hành vi được copy 100% và các mẩu thông tin/hành vi được copy và biến đổi. Cả Dawkins và Blackmore đều mặc nhiên công nhận rằng con người là loài động vật duy nhất học bằng cách bắt chước và đây là cơ chế chính để lan truyền meme giữa các cá thể (cơ chế bắt chước). Tuy vậy điều này không thực sự chính xác vì các nhà khoa học khác đã chỉ ra rằng một số loài động vật khác như chim hay các loài linh trưởng cũng có thể học bằng cách bắt chước đồng loại/con người.

(click vào hình để phóng to)

Cuốn đầy đủ về Meme nhất mà mình được đọc (mới đọc được 1 lần, chưa hiểu được hết 1/3 :-?  ) là cuốn “Virus of the Mind” của Richard Brodie. Như mình đã map ở trên (click vào hình để phóng to), Brodie đưa ra ba định nghĩa trên 3 góc nhìn khác nhau : góc nhìn về sinh học (biological), về tâm lý (psychological) và về nhận thức (cognitive).

Tất cả những định nghĩa này (cá nhân mình cho rằng quan trọng nhất là việc) giúp chỉ ra được đâu là meme, đâu không phải là meme. Ví dụ ngáp là một hành vi không mang các thông tin cụ thể, không khuyến khích người khác ngáp cùng (nhưng tiếng ngáp tạo ra âm thanh đặc biệt thì có thể làm được điều này). Trái lại, những nốt đầu tiên của giao hưởng số V/Beethoven lại là một meme được lan truyền rộng rãi. Ở đây, Brodie đưa ra một kết luận đặc biệt cần chú ý : Meme tốt không cần phải là một ý tưởng/thông tin hay hoặc sáng tạo. Ngắn gọn nhất thì Meme tốt là Meme được lan truyền rộng rãi. Đây là chỗ mà những người làm viral marketing hay vấp phải khi chạy theo các ý tưởng hay/sáng tạo mà quên mất rằng liệu ý tưởng đó có thể lan truyền được hay không.

Meme có thể được lan truyền trực tiếp : ví dụ bà là người Hà Nội gốc truyền cho mẹ phép ứng xử thanh lịch của người Hà Nội, mẹ tiếp tục truyền cho con phép ứng xử này. Meme cũng có thể lan truyền gián tiếp : bà nghiêm khắc với mẹ, mẹ do chán ghét sự nghiêm khắc của bà nên dễ tính với con, con do không đồng ý với sự dễ tính của người mẹ nên lại sống một cách có kỷ luật, nghiêm khắc với bản thân. Ở đây, sự nghiêm khắc đã được lan truyền từ bà sang cháu gián tiếp thông qua người mẹ.

Vậy tại sao lại phải lăn lộn với một thứ trừu tượng như Meme? Đặt lại câu hỏi : Có ai làm marketing lại không muốn sản phẩm, thương hiệu, tính chất của thương hiệu được người sử dụng ưa thích và tự giới thiệu/lan truyền cho nhau? Có ai làm marketing lại không muốn các đoạn video quảng cáo sản phẩm của mình được truyền miệng/lan truyền giữa người sử dụng với nhau một cách tự nguyện? Có ai làm marketing lại muốn năm này qua năm khác thấy tiền để air TVC cứ tăng đều mà lãi và share của mình đều giảm?

Seth Godin trong cuốn Unleashing the Idea-Virus của mình cũng đã đưa ra khái niệm Idea Virus, một khái niệm gần với Meme. Broadie trong cuốn Virus of the Mind đưa ra bảng so sánh giữa Computer Virus, Meme và Gene (ở trên) khá hay.Nói nôm na thì để virus có thể lan truyền được, virus cần phải sống đủ lâu trong vật chủ (host) và đủ sức để lây lan, phát triển ra bên ngoài – sang các vật chủ khác. Một ý tưởng đủ tốt để lan truyền cần phải đủ hay/ấn tượng để người ta có thể nhớ được, đồng thời dễ dàng để có thể lan truyền ra môi trường bên ngoài. Ví dụ một bức tranh trừu tượng rất đẹp vào vài trăm năm trước sẽ gây ấn tượng cực mạnh với bất cứ ai xem nó chưa chắc đã lan truyền được bởi không ai xem nó có thể mô tả, vẽ lại được nhưng vào thời bây giờ lại có thể dễ dàng lan truyền thông qua việc chụp ảnh, phát tán qua Internet…

Lẽ thường tình, nếu bạn đủ sáng tạo thì bạn có thể tạo ra một ý tưởng (virus/meme) hoàn toàn mới và đủ mạnh để lan truyền tới số đông. Nếu không, bạn cũng có thể tận dụng các ý tưởng cũ (virus/meme) và cấy vào ý tưởng này sản phẩm của bạn. Việc khó nhất trong giai đoạn này có lẽ là cấy sao cho hợp – sao cho tự nhiên. Trong bài trình bày của mình tại 5Desire, mình có đưa ra một ví dụ đi từ cụm từ hơi có tí bậy “v.c.l” – vãi cả l^%$%^ được lan truyền trên forum, sau đó được biến đổi thành vãi cả lúa, vãi cả lọ, vãi cả hà (khi thím Hà xuất hiện), vãi cả lều (khi Lều Phương Anh xuất hiện trong Vietnam Idol) và được biến đổi trở thành “Vãi cả lon” (thiếu dấu có chủ ý) như sau :

8/360 - VCLon

(pix courtesy of Kien44 – Under Creative Commons License)

Nếu thay chiếc lon trắng trơn bằng lon Coca-Cola hay lon bia 333 và thực hiện việc gắn cụm từ “vãi cả lon” thì sao? Cocacola ngon vãi cả lon?

Một ví dụ khác mình nhìn thấy trên mạng khi phong trào Doraemon chế lên cao có liên quan tới mỳ Hảo Hảo (gắn với meme quen thuộc là hình ảnh Doraemon và bạn bè) :

Có khá nhiều các ví dụ khác liên quan tới việc sử dụng Meme trong quảng cáo/marketing hiện nay (sử dụng ca dao/tục ngữ trong TVC, sử dụng clip về Hitle …) nhưng hiệu quả thực sự của việc sử dụng Meme này đến đâu thì bản thân người viết bài này cũng chưa đủ trình độ và thông tin để đánh giá. Tuy vậy, người viết tin chắc rằng nếu nghiên cứu sâu hơn về Meme thì đây là một con đường tốt để có thể đưa thông điệp của thương hiệu/sản phẩm tới khách hàng một cách thân thiện hơn và có thể dễ dàng kích hoạt khả năng lan truyền thông điệp này tốt hơn. Trên thế giới có khá nhiều nghiên cứu về Meme và có khá nhiều website thu thập các Meme (ví dụ điển hình mà người viết nghĩ rằng ai cũng sẽ thích là KnowYourMeme bởi không chỉ đưa ra các Meme, site này còn phân loại và có các phân tích sơ lược về Meme – sự biến đổi của Meme đó). Hy vọng mọi người sau khi đọc bài này sẽ để lại comment về các Meme tại Việt Nam gây ấn tượng với mọi người để mình có thể tiếp tục tổng hợp và phân tích sâu hơn. Tks  :oops:

(Bài viết này dựa phần lớn vào bài viết Introduction to Memetics của Dan Zarrella. Xin đọc thêm Unleashing the Idea-Virus của Seth Godin)

Đâu là thuốc chữa cho bệnh dịch nghiện sử dụng chỉ số AVE?

Đợt này đang học hành chăm chỉ về media và các loại chỉ số, trong đó có một chỉ số là AVE rất khó hiểu (Advertising Value Equivalency). Khó hiểu vì giá trị của một bài PR được mặc định tính bằng 3 lần giá trị của quảng cáo trên diện tích in ra bài đó. Đại loại nếu bài PR chiếm nửa trang báo thì giá trị của bài đó sẽ bằng 1.5 trang báo nhưng đem bán quảng cáo.

Lược dịch bài này “AVEs are Disease – Here’s a Little Vaccine” dưới đây để xem các bạn debate và cứu chữa cái chỉ số có vẻ rất mơ hồ này như thế nào. Dịch sai chỗ nào, các bạn cứ chém chỗ đấy để mình còn biết mà sửa nhé.

Một trong những chỗ có thể coi là thực sự “xảo trá” trong việc đo đếm hiệu quả PR là việc sử dụng chỉ số AVE hay việc sử dụng giá trị quy đổi ra tiền của media để gán cho giá trị đem lại của bài PR. AVE thực sự là một trong những lỗ hổng dễ dàng bị công kích cho bất cứ ai đó cố gắng thử tính ROI cho hoạt động PR của mình dựa trên chỉ số này. Để làm cho mọi thứ tệ hại thêm, phép tính sơ hở trên lại tiếp tục được sử dụng trong việc đo đếm hiệu quả của Social Media. Ví dụ, một vài nghiên cứu khoa học đã cố gắng lượng hóa giá trị của các Fan trên Facebook Fan Page bằng cách quy giá trị của các Fan vào với giá trị CPM trong thế giới quảng cáo. Các bảng xếp hạng giá trị tác động của Online Media cũng cố gắng gắn cho online news và social media các đại lượng tiền bạc có giá trị tương ứng với giá phải bỏ ra để mua quảng cáo trên môi trường Online Media đó. Chỉ số AVE hay cách tính quy đổi nói chung kiểu này có thể được coi là một bệnh dịch lây lan ngày càng mạnh trong ngành PR.

Vào tháng 6 năm 2010, các chuyên gia PR từ khắp nơi đã nhóm họp tại Barcelona để soạn thảo ra Barcelona Principles, một tập hợp 7 nguyên tắc hữu ích cho toàn ngành PR để qua đó những người thực hiện PR có thể đo đếm được chính xác hơn giá trị mà mình mang lại. Một trong những nguyên tắc gây ra tranh cãi nhiều nhất trong hội thảo là nguyên tắc liên quan tới việc phủ định giá trị AVE dưới đây :

Advertising Value Equivalency (AVE) is Not the Value of Public Relations

Trong khi rất nhiều chuyên gia trong ngành đã công khai chống lại chỉ số AVEs từ rất nhiều năm một cách đơn độc thì nay cả thế giới dường như cũng đã bắt đầu quay lưng lại với chỉ số mù mờ này. Dưới đây là 4 lý do mà tác giả tin rằng chỉ số AVE sẽ biến mất trong thời gian tới :

1.AVE không đo đếm được kết quả thực tế 

Việc gán giá trị cho một bài viết tương đương với (ba lần) giá trị của diện tích quảng cáo tương ứng với diện tích bài viết đó không thể chỉ ra được giá trị đích thực và ảnh hưởng mà bài báo đó mang lại cho/với độc giả. Bản thân những người làm quảng cáo cũng không đánh giá hiệu quả của quảng cáo thông qua việc họ phải bỏ ra bao nhiêu tiền để quảng cáo cơ mà? Hãy tưởng tượng một ông chủ doanh nghiệp hỏi giám đốc Marketing “Này cậu, năm nay chúng ta quảng cáo có tốt không?” và giám đốc Marketing trả lời rằng “Thưa anh, tốt lắm. Tôi đã tiêu hết 500.000 USD của công ty” (chứ không phải là hiệu quả mà 500.000 USD đó mang lại cho doanh nghiệp). Liệu giám đốc Marketing này có bị đuổi việc không? Giá trị đích thực của PR hay Social Media không phải chi phí để bài viết liên quan tới doanh nghiệp xuất hiện mà phải là hiệu quả mà bài viết đó đem lại cho các thương hiệu của doanh nghiệp, đem lại cho hình ảnh của doanh nghiệp và giá trị của các bài viết đó trong việc hỗ trợ các hoạt động marketing. Barcelona Principles cũng cổ vũ cho việc tập trung đo đếm các kết quả thực sự đem lại và đấy mới phần chìm của tảng băng mà từ trước tới nay chúng ta đã bỏ mặc.

2.Chỉ số AVE làm giảm giá trị của quan hệ công chúng (AVEs Reduce Public Relations to Media Relations)

Bạn khó lòng nói rằng bạn có giá nếu giá trị đó không thể đo đếm được hoặc đo đếm sai. Chỉ số AVE không chỉ ra được hiệu quả của một vài phần quan trọng trong PR bao gồm các tư vấn về mặt chiến lược của chuyên gia, truyền thông khi khủng hoảng, các giá trị được kích hoạt và nhân rộng bởi cộng đồng (ví dụ các chiến dịch viral). Nói cách khác, AVE đơn giản hóa quan hệ cộng đồng xuống thành quan hệ với các nhà báo/phóng viên/chủ website… với những người nắm giữ media hơn là với cộng đồng thật sự. Khi cần xử lý khủng hoảng, một bài PR được đăng tải trên đúng môi trường (báo chí, forum, blog…) sẽ có giá trị hơn rất nhiều so với 3 lần giá trị bình thường bạn bỏ ra để mua bài viết đó.

3.Chỉ số AVE cản trở việc đo đếm tích hợp nhiều môi trường khác nhau (Integrated Measurement)

Các chiến dịch marketing, branding tốt thường không sử dụng một môi trường cố định mà là một vài môi trường, kênh thông tin kết hợp với nhau. Thời đại của Internet (làm đa dạng hóa môi trường truyền thông) lại càng là một trong những thời đại mà chúng ta cần sự tích hợp chặt chẽ nhiều hơn nữa. Quảng cáo và PR vẫn thường phối hợp chung với nhau trong các chiến dịch này và đây là lý do để chỉ số AVE được sử dụng như một sự thay thế khi quy đổi giá trị ra tiền. Các nghiên cứu chỉ ra rằng quảng cáo khi được đặt trong một cộng đồng có thiện cảm (với thương hiệu) sẽ có hiệu quả hơn trong khi quảng cáo đặt trong một cộng đồng thiếu thiện cảm sẽ khó mà thành công hoặc sẽ có tác dụng ngược với người tiêu dùng. Chúng ta cũng đã nhìn thấy rằng quảng cáo (online/offline) cũng tạo tác động tốt hơn và dẫn tới các tương tác hiệu quả hơn (conversion rates cao hơn/sale?) trong các kênh Social Media khi được chạy đồng thời cùng nhau. Các chiến dịch và chương trình tích hợp thì cần có bộ chỉ số đo đếm mang tính chất tích hợp nhưng chỉ số AVE lại không đáp ứng được điều này. Nói cách khác, AVE sẽ dễ dàng bị cô lập trong môi trường digital và môi trường tích hợp.

4.Chỉ số AVE không cung cấp bất cứ giá trị nào cho việc phân tích/chuẩn đoán.

Ngày nay, quá nhiều năng lượng đã được sử dụng cho việc giữ vững các loại chỉ số (và con số) chứ không phải để dùng cho việc phân tích/chuẩn đoán (chỉ nhìn nhiều về WHAT chứ không nhìn về WHY). Đó là một trong những lý do tại sao các chỉ số tổng hợp đơn lẻ (được tính gộp từ rất nhiều các chỉ số khác) như Klout lại trở nên có giá trị với nhiều người. Tuy vậy, điều cốt lõi của việc đo đếm không phải là để đưa ra các con số mà là để tìm hiểu xem doanh nghiệp có đạt được chỉ tiêu với số tiền mình đã bỏ ra hay không, đâu là điểm chưa đạt, đâu là điểm đã đạt (hãy quay lại với con số 500K USD ở phần 1). Sử dụng AVE rất dễ làm doanh nghiệp hiểu lầm và có thể đưa tới các kết quả khả quan giả tạo (về những gì mình đạt được trong khi chẳng có bất cứ ai đọc bài PR đó).Khi người ta bớt quan tâm tới việc độc giả có hiểu được thông điệp truyền thông của mình hay không, độc giả có nói về mình hay không thì AVE sẽ trở nên quan trọng. Thế nhưng, lúc đó cũng là lúc mà bạn sẽ chẳng phân tích và tìm hiểu được nhiều điều từ chiến dịch PR của mình (hoặc giả bạn cũng không cần phân tích!)

Một vài người nói rằng Barcelona Principes là “cái kết của AVE”. Tác giả đồng ý thẳng thắn với nhận định này với một chút bổ sung “đây sẽ là điểm khởi đầu cho cái kết của AVE”. Cần có nhiều hơn những nghiên cứu và những chuyên gia chỉ ra những khái niệm mới, có ích hơn là chỉ số mơ hồ AVE để người ta có thể xác định được chính xác hơn giá trị của PR và Social Media trong các cuộc trao đổi phức tạp đang diễn ra hàng ngày trên nhiều kênh/môi trường khác nhau. Nghiện sử dụng AVE là một căn bệnh không hề dễ chữa. Chỉ có bằng chứng thực tế mới là phương thuốc hữu hiệu cho căn bệnh này.

 

Giá trị của user thay đổi khi môi trường truyền thông thay đổi

Mấy hôm nay có thấy hai cái Infographic khá hay : “The history of Networks” và “What is the network effect? The value of users explained“.  Để nói tới giá trị của user và giá trị của network (mà user nằm trong đó) thì cần phải đi lại một lượt về lịch sử của truyền thông (xem Infographic đầu tiên).

Sarnoff's Law

Năm 1928, David Sarnoff thành lập NBC (National Broadcasting Company) tại Mỹ và sau đó là trở thành người quản lý của RCA (Radio Corporation of America). Quy luật của Sarnoff (Sarnoff’s law) đương nhiên cũng được áp dụng đặt trong bối cảnh giữa người nghe và trạm phát radio. Vì đây là quan hệ 1-nhiều nên một trạm phát có 100 người nghe sẽ có giá trị gấp 10 lần so với một trạm phát có 10 người nghe. Người nghe trong trường hợp này cũng không liên lạc được trực tiếp với nhau.

Metcalfe's Law

Quy luật Metcalfe gắn với tên của Robert Metcalfe, người sáng lập ra Ethernet (năm 1976) và đồng sáng lập 3Com. Trong một mạng có kết nối hai chiều giữa người sử dụng (chứ không phải quan hệ một chiều như trạm phát radio – người nghe) thì giá trị của network sẽ tỷ lệ thuận với bình phương của số người sử dụng. Nói cách khác, mạng điện thoại và các mạng cung cấp các kết nối Internet đơn giản như email khi có 100 thành viên sẽ có giá trị gấp 25 lần so với mạng cùng loại nhưng chỉ có 20 thành viên.

Reed's Law

Quy luật Reed gắn với tên của David P.Reed (cũng xuất phát từ MIT giống Metcalfe). Quy luật này còn được gọi là “The Law of Pack” và được sử dụng cho các mạng xã hội ngày nay. Quy luật này nói rằng một network trong đó các thành viên có thể tạo ra các nhóm (group) bất kỳ tương tác với nhau có 100 thành viên sẽ có giá trị hơn 290 lần so với một mạng tương tự có 10 thành viên.

Một user tùy thuộc vào từng loại network và cách mà user đó có thể kết nối với các user khác để tạo ra giá trị chung cho network. Một mạng xã hội được quản lý chặt chẽ bởi nhà nước hoặc các tổ chức quản lý chỉ chăm chú truyền tải thông tin một chiều thì vẫn sẽ chỉ dừng lại ở quy luật Sarnoff mà không tận dụng hết giá trị của network như trong quy luật Reed khi số lượng thành viên tham gia tăng lên.

Một ví dụ khác dành cho sự thay đổi giá trị của user khi thay đổi network là Trang Vàng (Yellow Pages). Trang Vàng trong các cuốn danh bạ điện thoại (bản in giấy) chỉ có tác dụng thông tin một chiều, Trang Vàng + điện thoại sẽ mang lại giá trị như quy luật Metcalfe còn mô hình Trang Vàng mở rộng trên Internet như Yelp hay Thổ Địa cung cấp cho người sử dụng nhiều thông tin hơn và ngược lại, thông tin của người sử dụng cũng được coi trọng và có sức mạnh nhiều hơn.

Giá trị của user đã thay đổi khi họ tham gia vào những mạng xã hội. Vậy tại sao cứ bấu víu lấy những quy luật quảng cáo cũ – 1 chiều và vô tình – đánh giá thấp sức mạnh của user. Đến bao giờ marketer mới thực sự lắng nghe user?

“Cheap social media makes marketers lazy”

The former Thomas Cook and Post Office marketer says: “Junior brand managers think social media is a great way of getting their message out to a wider audience at virtually no cost.”

“The problem is that it’s cheap churn and too often, the stuff we as marketers are taught in the classroom about targeting; about the right message; about good creative and the proposition and so on, are forgotten.”

Can’t agree more! Can’t add and take any word!

(src : http://www.marketingweek.co.uk)

Thị trường Online Monitoring – cơ hội rộng mở

Mình nhớ là cách đây hơn 10 năm, khi còn hì hục viết code cho em crawler sau này chạy trên Baomoi thì vẫn còn phải xài account 1260 đi mượn của ông chú (để rồi ông chú nhăn nhó vì có tháng tiền cước lên tới 600K). Khi mà ADSL, cáp quang và Internet ở Việt Nam phát triển, càng ngày càng thấy rằng nhu cầu có được dữ liệu là nhiều, nhưng nhu cầu có được dữ liệu đúng với context mình cần và phân tích/kiểm soát dữ liệu đó mới thực sự là lớn.

Điểm qua một vài thông tin mua bán sát nhập gần đây trên thế giới nhé :

- Media Monitor mua lại Brandtology với giá không công bố (2/2011). Brandtology là một trong những doanh nghiệp đã từng có khách hàng tại Việt Nam về dịch vụ Online Monitoring. Singapore tuy bé nhưng thị trường Online Monitoring lại rất lớn, có thể vào đây để xem chart cập nhật hàng tháng về thị trường này.

- SalesForce mua lại Radian6 với $276M cash và $50M cổ phiếu (tổng cộng là $326M). Radian6 là công ty quá nổi tiếng về mảng này rồi, có lẽ không cần nói thêm. Radian6 là cầu nối quá tốt để SalesForce có thể Social hóa phần CRM của mình.

- Trước đó, một doanh nghiệp đình đám khác về mảng này là ScoutLab cũng được Lithium mua lại với giá 20M++. Nhiều tên tuổi làm về mảng này cũng đã được mua lại hoặc được đầu tư bởi những công ty có số có má về việc khảo sát thị trường. Ví dụ như Cymphony được TNS mua lại, BuzzMetrics được Nielsens mua lại, Techrigy được Alterian mua lại, FiltrBox được Jive mua lại, BlogPulse được Nielsens mua lại …

Với việc thị trường online chung của Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ, mình tin rằng sớm muộn gì dịch vụ này tại Việt Nam cũng phát triển. Các bạn khoai Tây có thể có tool mạnh, có chuyên gia giỏi nhưng lại không hề có kinh nghiệm về việc xử lý tiếng Việt tốt và đây là ngách tốt để các công ty Việt Nam có cửa để cạnh tranh (ví dụ Brandtology có quảng cáo là xử lý được tiếng Việt nhưng là xử lý … bằng tay :| , xử lý bằng tay thì rất ok và chính xác hơn bằng máy nhưng không thể xử lý dữ liệu với khối lượng lớn). Hy vọng trong thời gian sắp tới sẽ thấy nhiều hơn các công ty Việt Nam chú trọng hơn vào mảng phân tích và theo dõi dữ liệu này. ePi với Baomoi là một demo case cũng hy vọng dựa vào việc có khả năng xử lý tiếng Việt tự động tốt (tách từ khóa, phân loại bài viết, tự động phân tích tin tốt xấu – sentiment analysis …) để sớm thâm nhập thị trường này trong quý II/2011. Việc còn rất nhiều và cá nhân mình thấy thị trường này không đơn giản, tuy nhiên người Việt không lẽ lại không “bập bẹ” xử lý nổi tiếng Việt mà lại để các bạn khoai Tây xử thì cũng buồn quá :D

(Update : ePi đã tiến vào thị trường với ePiORM phiên bản 2011 và đang cật lực làm việc để nâng cấp. Let’s go!!!)

Vietnam Idol 2010 Infographic

——————

5 câu hỏi khi làm Facebook Marketing của Dan Zarrella

Dan Zarrella trong bài viết của mình vào tháng 01/2011 đã đưa ra năm câu hỏi rất chính xác cho những người muốn làm Marketing trên Facebook thông qua content. Để xem chi tiết về 5 câu hỏi này, xin được đọc blog của Dan Zarrella. Tóm gọn lại, bạn cần quan tâm tới các vấn đề sau khi post content lên Facebook :

  1. Post vào giờ nào trong ngày?
  2. Post vào ngày nào trong tuần?
  3. Post content loại nào?
  4. Post những từ ngữ nào là thích hợp, những từ ngữ nào là không thích hợp?
  5. Tần suất post bao nhiêu là phù hợp?

Cá nhân mình cho rằng đây là những câu hỏi đúng và không chỉ áp dụng đối với Facebook mà có thể áp dụng đối với bất kỳ mạng xã hội nào như Twitter, ZingMe hay Linkhay. Quay lại Facebook, sáng nay cũng mới đọc được một bài viết trên trang AllFacebook, trong đó có đoạn :

For pages, people are considered active users if they have visited the page; viewed a post by the page; or interacted with a post.

Nếu là quản lý của một Pages trên Facebook, chắc hẳn một trong những công cụ bạn phải quan sát hàng ngày là phần Insights (cũng giống như Webmaster phải quan sát Google!Analytics hoặc một công cụ tương tự). Tuy nhiên, phần Insights trên Facebook lại không thể trả lời cho bạn những câu hỏi mà Dan Zarrella đã hỏi (chính xác hơn là các bạn Facebook chưa “thèm” trả lời mấy câu hỏi đó). Trong công cụ Fan Page Monitoring Tools của mình, mình cũng chỉ trả lời được câu hỏi số 1 và số 2 theo một cách tương đối khiên cưỡng vì chỉ monitor được xem giờ nào Fan Post đạt cao nhất. Tuy vậy, Fan Post là mức cao nhất của sự tương tác (> Comment > Like > View) nên cũng không thể chỉ dựa vào Fan Post để đưa ra kết luận. Ví dụ, đối với 3 trang đang có mức tương tác cao hiện tại trên Facebook thì Fan Post tính theo giờ của các trang như sau :

Fan Post - Cu Trong Xoay - Facebook(Page của Cù Trọng Xoay)

Fan Post - TCCL - Facebook

(Page của TCCL)

Fan Post - Doraemon Che(Page của Doraemon chế)

Nếu chỉ nhìn vào 3 biểu đồ trên để nói rằng Fan Active nhất vào khoảng 9h tối thì chưa thật chính xác bởi active còn mang nghĩa là comment, like và thậm chí là view nhưng nếu kết hợp thêm với các công cụ bên ngoài như Google!Analytics hoặc kết hợp với Insights của Facebook, mình có thể chọn giờ tốt hơn để tiếp cận với các Fan. Cũng như vậy, tần suất và loại content để post cũng là một yếu tố quan trọng mà những người quản lý Fan Page hoặc cộng đồng nói chung cần quan tâm bởi nói quá nhiều thì có khi chẳng được ưa, mà nói quá ít thì lại bị trôi tuột đi mất. Cuối cùng, điều khó nhất với cá nhân mình là chọn lựa từ ngữ cho phù hợp bởi cũng chưa thật sự biết chính xác từ ngữ nên chọn lựa như thế nào. Mới đây cũng đã thử kết nối phần tự động tách từ khóa của Baomoi vào Monitoring Tool của mình để track thử xem các Admin của Page cũng như bản thân mình hay sử dụng từ ngữ gì nhất. Hy vọng sau một thời gian sẽ rút ra được kinh nghiệm tốt hơn. Ví dụ, hãy xem Fan Page của Gào nói gì nhiều mà thuyết phục được nhiều Fan tuổi teen ấn Like thế?

Kw - Gao - Facebook

Làm Social Media Marketing theo cách của hãng hàng không giá rẻ AirAsia

Định viết về AirAsia từ khi đi Ấn Độ về nhưng rồi lười biếng nên cứ chần chừ mãi chưa viết. Hôm nay, xem được cái Infographic thấy AirAsia đứng thứ ba trong số các hãng hàng không châu Á “nói” nhiều nhất trên Twitter (trong tháng 3/2011) nên mới hạ quyết tâm viết một bài để tổng hợp lại những gì AirAsia đã làm và đã được lợi trong thời gian qua với Social Media.

Trước hết phải nói rằng mình rất happy với AirAsia qua chuyến đi vừa rồi khi bay từ Malaysia sang Ấn Độ trên chuyến bay dài hơn 5 tiếng ngồi Boeing thoải mái (hơn JetStar của Việt Nam) mà chỉ mất có khoảng … 50 USD cho hai chiều. Khó có thể đòi hỏi gì hơn với một chặng đường dài và một số tiền bỏ ra nhỏ như thế, vượt trên cả mức mình mong đợi. Lần mò tìm hiểu về AirAsia, tìm được một slide khá hay tại đây. Trong slide đó, nói khá rõ về Value Proposition, Competitive Advantages và Marketing Strategies của AirAsia. Để đọc kỹ thì bạn có thể (và nên đọc toàn bộ slide đó vì có một phần chú trọng tới việc sử dụng công nghệ để giảm chi phí), còn lại mình chép nhặt 3 phần nói trên ra đây để 8 tiếp (click vào hình để phóng to) :

 

AirAsia - Value Proposition
AirAsia – Value Proposition
AirAsia - Competitive Advantages
AirAsia – Competitive Advantages
AirAsia - Marketing Strategies
AirAsia – Marketing Strategies

Fan Page trên Facebook của AirAsia được tạo vào tháng 4/2009 và đạt 100K fans vào tháng 12 cùng năm khi bắt đầu chạy chiến dịch giảm giá 20%. Sau đó 3 tháng, Fan Page này đạt 205.280 fans và hiện tại theo SocialBakers đã đạt mức gần 1 triệu fans! Kathleen Tan, linh hồn của các chiến dịch này đã nhận xét rất đúng khi cho rằng đây thực sự là cách tiếp cận tốt và có thể dễ dàng phá vỡ rào cản của các phương pháp marketing truyền thống.

“Lifestyle changes on the digital front as news and information are now made available real-time via the social media platform. This has prompted AirAsia to engage in social media to connect with our guests, and the response has proven to be encouraging through AirAsia’s Facebook Fan page.”

We interact, listen, have some fun, engage and action if we encounter complaints and not hide. Transparency is crucial. Of course we are also learning lessons on how to improve.”

“You can say that AirAsia’s Facebook Fan Page has become a one-stop service centre for guests travel needs…”

Hôm trước trong 5Desire nhớ rằng có bạn bên Thái Hà Book hỏi rằng liệu nhân lực ít có làm Social Media được không? Bé tí như ePi thì không vấn đề gì nhưng ngay cả như AirAsia lúc khởi đầu cũng chỉ có duy nhất 01 nhân viên chuyên trách về mảng này. Sau khi Fan Page trên Facebook bùng nổ và đạt tới con số 300K, AirAsia đã có 5 nhân viên chuyên trách 24/7 và sau đó mở rộng lên đến 7 người. Ms Tan cũng chia sẻ rằng Facebook là miễn phí và thay vì sử dụng một chiến dịch dùng quảng cáo trên báo giấy tốn 2 triệu RM (~ 660.000 USD), họ đã thử thực hiện chiến dịch này trên Facebook. Với 3-4 ngày khởi động bằng các thông báo, trong ngày chính thức chạy chiến dịch thì server book vé đã … sập luôn và kết quả AirAsia có được gần 900.000 lượt book vé thành công sau hai ngày chạy chiến dịch. Một điều mà Ms Tan chia sẻ (mà có lẽ cũng rất thực tế) là việc thông báo trên Fan Page còn tốt hơn quảng cáo trên báo ở chỗ các Fan trên Facebook đã có hiểu biết sẵn về chiến dịch nên không gọi điện tới Call Center chỉ để hỏi thông tin (và không mua vé) khiến Call Center bị lụt nhưng hiệu suất lại không cao. Nhờ đó, Fan Page trên Facebook và Twitter còn giúp cho AirAsia giảm tải công việc của Call Center. Sau trải nghiệm này, Marketing Strategy của AirAsia này ngày càng chuyển dịch nhiều về Online và Social Media hơn.

Không chỉ có Facebook và Twitter, Air Asia cũng đã mở rộng tới cả các mạng xã hội địa phương như Renren hay Sina (bao giờ tới Zing, Go và BạnBè nhỉ?) Đồng thời, họ cũng mở các Fan Page trên Facebook cho từng quốc gia một (tuy nhiên hình như chưa có ở Việt Nam. Lần trước khi delay một ngày chuyến bay của mình, ngoài gửi thư thì Call Center tại Indonesia cũng đã gọi điện tận nơi để thông báo lại cho mình biết). Ngoài ra, FlickrYoutube Channel cũng là một phần trong chiến lược sử dụng Social Media của AirAsia.

Để đạt được điều này, AirAsia có một sự thống nhất toàn diện từ lãnh đạo cấp cao và đây thực sự là một nhân tốt cực kỳ quan trọng trong việc triển khai Social Media thành công tại doanh nghiệp.

“This is a movement not just at the corporate level but generally our staff also embrace it and use as tools to communicate and share experiences. It is driven at top level as most of our CEOs and senior management tweet, including me.” – Ms Tan

Không hẳn là AirAsia không có những lúc chưa thực sự sử dụng hiệu quả Social Media, tuy vậy khi có sự nhất quán từ trên xuống dưới, có đội ngũ 24×7 chuyên biệt để ngụp lặn trên môi trường Social Media, AirAsia thực sự đang chuyển hóa cách làm PR với việc sử dụng môi trường online, nâng cao khả năng hỗ trợ và giao tiếp khách hàng, cung cấp cho khách hàng một touch-point cởi mở và dám làm dám nhận, tạo điều kiện để brand va đập và tiến sát với trải nghiệm thực của khách hàng. Đúng như lời Ms Tan nhấn mạnh “social media is a commitment – it isn’t just about learning about theories and technologies, it’s about immersing yourself in social media as well“.

Nhìn lại hàng không Việt Nam, có một chút thoáng buồn. Nếu bạn tìm thấy Fan Page hay active Twitter Account của Jetstar (hay một account khác liên quan tới Social Media ở VN), xin hãy chỉ cho mình. Cá nhân mình thì có tìm thấy một Fan Page của Vietnam Airlines trên Facebook với gần 15K fans nhưng có vẻ hoạt động rất cầm chừng kể từ khi Facebook bị chặn không chính thức. Hy vọng rằng qua bài học của AirAsia, các hãng hàng không Việt Nam sẽ có thể có cách làm tốt hơn với môi trường online. Đương nhiên, nếu họ muốn và cảm thấy cần làm!

Epic Fail – màn hành hạ mèo trên chương trình “Con yêu của mẹ”/VTV

Không còn gì để bình luận. Nghĩ sao làm chương trình này cho trẻ con vậy? Hem biết liên quan gì tới Webtretho không, chứ thấy Webtretho chạy vè vè quảng cáo thế này thì thiệt quá. Mèo nó biết nói, chắc nó bảo khán giả buộc ông đạo diễn/agency nào làm cái này vào chai nhựa rồi lật úp mặt xuống bể bơi mấy phút xem cảm giác thế nào quá? Giáo dục cho trẻ em kiểu này kỳ quá  :-( Toàn bộ câu chuyện, chả có tí thương xót gì con mèo :-(

Nghĩ về bong bóng mạng xã hội và sự tồn tại vững chắc của forum tại Việt Nam

Viết bài này bắt đầu từ sau khi đọc phần thảo luận này trên LinkHay và bài gốc tại BusinessWeek. Để nói về bong bóng mạng xã hội, lại phải đọc lại bong bóng dot-com trước khi viết tiếp bất cứ thứ gì. Wikipedia nói rằng :

Venture capitalists saw record-setting growth as dot-com companies experienced meteoric rises in their stock prices and therefore moved faster and with less caution than usual, choosing to mitigate the risk by starting many contenders and letting the market decide which would succeed. The low interest rates in 1998–99 helped increase the start-up capital amounts. Although a number of these new entrepreneurs had realistic plans and administrative ability, many more of them lacked these characteristics but were able to sell their ideas to investors because of the novelty of the dot-com concept.

The dot-com model was inherently flawed: a vast number of companies all had the same business plan of monopolizing their respective sectors through network effects, and it was clear that even if the plan were sound, there could only be one network-effects winner in each sector, and therefore that most companies with this business plan would fail. In fact, many sectors could not support even one company powered entirely by network effects.

According to dot-com theory, an Internet company’s survival depended on expanding its customer base as rapidly as possible, even if it produced large annual losses. For instance, Google and Amazon did not see any profit in their first years.

Public awareness campaigns were one of the ways in which dot-coms sought to expand their customer bases. These included television ads, print ads, and targeting of professional sporting events. Many dot-coms named themselves with onomatopoeic nonsense words that they hoped would be memorable and not easily confused with a competitor.

More in-depth analysis shows that 50% of the dot-coms companies survived through 2004. With this, it is safe to assume that the assets lost from the Stock Market do not directly link to the closing of firms. More importantly, however, it can be concluded that even companies who were categorized as the “small players” were adequate enough to endure the destruction of the financial market during 2000-2002. Additionally, retail investors who felt burned by the burst transitioned their investment portfolios to more cautious positions.

Đọc nhanh có thể thấy rằng bong bóng dot-com tại Mỹ đã xảy ra do việc đổ vốn một cách dễ dãi vào nhiều sản phẩm có mô hình giống nhau, đồng thời các sản phẩm này đốt tiền khá nhanh và không có nhiều sự lựa chọn trong việc tiếp cận khách hàng (dẫn tới việc bỏ nhiều tiền cho quảng cáo offline). Bong bóng này vỡ nhưng big-player có giá trị vẫn tồn tại được, và vỡ do rất nhiều nguyên nhân khác nhau (xin đọc kỹ bài trên Wikipedia – các nguyên nhân liên quan tới chính sách, thị trường…) Có thể nói, vỡ là vỡ các player vốn đã mong manh như bong bóng, chỉ cần thị trường hắt hơi là xẹp.

————————————————————

Bong bóng đang trở lại? Với một dạng thức khác tinh vi hơn? Điểm đầu tiên để nói là việc đổ vốn một cách dễ dãi. Ở Mỹ và ở Việt Nam đều vậy. Không muốn nói và không muốn nhắc tới những sản phẩm đã chết, âm thầm hoặc công khai chết nhưng không ít các sản phẩm (ở tại Việt Nam) được xây dựng bởi những công ty lớn và những con người rất chuyên nghiệp. Nhưng rồi ngỏm vì đổ vốn dễ dãi quá. Sự dễ dãi này có căn cơ từ một điều rất cũ, đã từng được nói rất nhiều trong dot-com bubble : mô hình kinh doanh dựa vào việc phát triển bề rộng, có càng nhiều người sử dụng càng nhanh càng tốt trong khi còn loay hoay trong việc kiếm tiền trên những người sử dụng này như thế nào. Hammerbacher trong bài báo của BusinessWeek đã phải thốt lên “That’s suck” là vì như vậy. Là một trong số 100 nhân viên đầu tiên của Facebook, Hammerbacher có nhiệm vụ nghiên cứu hành vi của người sử dụng Facebook và để cuối cùng để Facebook lại sử dụng một mô hình rất cũ để kiếm tiền : quảng cáo. Dù hình thức quảng cáo lần này có hướng đối tượng hơn, thì đó vẫn là bài cũ : nhiều users, nhiều traffic và hy vọng là CTR sẽ cao.

————————————————————

Wave thứ nhất là để giải quyết vấn đề về thông tin, dạng know-how. Wave thứ hai cũng là để giải quyết vấn đề về thông tin, dạng social (copy của bạn Xoài). Wave thứ ba là gì? Bạn Xoài và nhiều người khác vẫn đang đi tìm. Trong khi bạn Xoài và người khác đi tìm, một số bạn guru khác ở Mỹ như Hammerbacher bỏ ngang đi làm việc khác có ích hơn cho đời thì vẫn có nhiều người khác kiếm được tiền. Tỷ như Groupon kiếm được một đống tiền. Tỷ như Color kiếm được một đống tiền đầu tư. Tỷ như TechCrunch kiếm được một đống tiền từ AOL nhờ việc viết về một đống các bạn khác kiếm tiền như thế nào.

Google và Facebook đại diện cho hai làn sóng thông tin ập tới nhanh, mạnh và thừa mứa với người sử dụng trong hai thập kỷ gần đây. Thông tin đến từ SE giờ lại đến tiếp từ mạng xã hội (mà nói là mạng xã hội chung chung quá, đến từ những kết nối trên mạng xã hội). Quảng cáo tới từ SE và giờ quảng cáo cũng lại đến từ mạng xã hội. Hai làn sóng này đều điểm chung là khó lòng bắt người sử dụng cuối cùng có thể trả tiền được. Do vậy, quảng cáo vẫn là nguồn thu chính không thể phủ nhận. Thế nhưng, để có được tiền từ quảng cáo thì bạn phải đứng được trên đầu sóng. Bí quyết kiếm tiền từ trước tới nay thực ra rất đơn giản : mang lại lợi ích cho người trả tiền và làm người ta hài lòng với lợi ích đấy. Liệu có làm được không? Liệu có thuyết phục được các hãng lớn trả tiền quảng cáo cho bạn không? Rồi lại lao vào vòng xoáy luẩn quẩn phải có thật nhiều user, phải có thật nhiều traffic, trong khi chưa chắc traffic đó đã đủ nuôi nổi tiền duy trì server?

————————————————————

Forum ở Việt Nam vẫn sống tốt, sống dai. Tại sao lại thế? Tại vì bị cấm Facebook? Còn một đống các mạng xã hội khác cơ mà? Forum khác với mạng xã hội có lẽ ở chỗ bất cứ ai cũng có thể xuất hiện ở trên đó một cách vô danh và bất cứ ai cũng có thể xây dựng cho mình một hình ảnh mình muốn trước cả cộng đồng nếu đủ giỏi. Forum cũng thân thiện với Search Engine và có thể search được, không như Facebook. Forum cũng không ấn vào đầu bạn các thông tin kiểu như Anh A ngáp, chị B chuyển sang quan hệ phức tạp với anh C, anh C trồng được 3 củ su hào ở vườn (ảo) của anh ấy … Vô hình trung, khi thông tin (người sử dụng) không cần thiết trên mạng xã hội cần phải lọc bớt, Forum lại là chỗ tốt bởi vì nó đã được lọc sẵn các thông tin này. Forum cũng là chỗ tốt cho người Việt Nam khi muốn thảo luận nhưng lại không phải lúc nào cũng muốn lộ mặt.

Kết nối là cần thiết. Không cần phải có Facebook thì mới có kết nối, nhưng có Facebook thì mình kết nối được với nhiều người hơn. Kết nối với nhiều người hơn thì mình phải duy trì kết nối nhiều hơn, hoặc mình sẽ mất kết nối đó. Vậy nên mới thi thoảng lại thấy bạn bè quyết tâm xóa bớt kết nối đi, từ 2000 cố xuống 1000, rồi 1000 lại cố xuống 500 hay thậm chí là 100… Ống nước không có nước thì sẽ han rỉ thôi. Sản phẩm không mang lại giá trị thật cho người sử dụng mà lại làm người sử dụng phát mệt thì chắc rồi cũng sẽ han rỉ.

————————————————————

Không dám bàn về chuyện bong bóng sẽ diễn ra như thế nào, cũng không muốn bàn vì mình cũng là người trong ngành. Thế nhưng, nếu bạn không to, không khỏe bằng Facebook thì cũng nên xem lại các dấu hiệu đã từng có khi bong bóng dot-com xảy ra và tự so sánh tình trạng hiện tại của mình với các dấu hiệu đó. Rồi thì hãy chuẩn bị bút viết để điền vào tấm business card trống mà CJ Chilvers đã gợi ý. Khi chẳng may bong bóng có vỡ, lúc ấy đỡ phải in lại card-visit và chức danh của mình  :mrgreen: . Dù sao thì phát ra một tấm card tự tay viết cũng khó hơn là ấn vào nút Add friend chứ. Và nếu không thích phát card, bạn có thể đưa biz card trắng trơn ra và bảo, haiz, tôi để quên card ở nhà rồi. Như thế có phải là giống hơn với việc ngụp lặn vô danh trên Forum hay không?

Nhắm mắt lại mình chọn Uyên Linh mà mở mắt ra thì Mai Hương là Idol chắc!

Rảnh rang chả biết tám về chuyện gì, thôi thì tám về Vietnam Idol cho nó thời thượng, lại còn có thể câu view của bà con được :mrgreen: Cho dù có nhiều thứ lùm xùm nằm ngoài (hoặc trong kịch bản của nhà sản xuất mà mình không biết) thì Vietnam Idol năm nay chắc thành công hơn là lần trước, ít ra là theo con mắt chủ quan của mình. Hai bạn vào đến vòng chung kết là xứng đáng, tuy nhiên mình thì thích một cuộc đối đầu tay ba để chọn ra một hơn, như vậy người thua cũng có tận hai người thua, thua có bạn có bè cho nó an ủi. Tuy nhiên cũng khó chọn ra người thứ 3 cho cân, nếu để mình chọn thì mình chọn Lân Nhã vào vị trí số 3, một ngưởi đàn ông cho ra đàn ông để đọ với hai em gái.

Đêm chung kết là một đêm vui vẻ. Vui vẻ theo đúng cách mà tất cả mọi người đều vui vẻ, từ giám khảo, thí sinh tới khán giả. Tuy nhiên mình thấy bài hát vòng 1 – hát tiếng Việt là hay nhất. Vòng 2 tiếng Anh không gây ấn tượng với cá nhân mình (đặc biệt không hiểu sao chị Siu lại khen bộ quần áo của Mai Hương, mình thấy bộ đó Mai Hương mặc cứ lùng ba lùng bùng, bụng to như cái trống :-? phải chăng do góc nhìn khác nhau :của mình – camera từ trên cao và góc nhìn của chị Siu – nhìn thẳng). Uyên Linh hát tốt, cảm nhạc tốt và mình cho rằng lớp “già” như mình sẽ thích Uyên Linh hơn Mai Hương. Mai Hương ngược lại giọng hát đầy sức mạnh, tươi trẻ và cần phải có thời gian nhiều hơn để cảm nhạc thông qua trải nghiệm sống. Mọi người có vẻ khen winning song nhưng mình nghĩ anh Huy Tuấn quả thật cũng bị sức ép khi sáng tác bài này, đâm ra nó không được đặc sắc nếu không nói là trơn tru tới mức chả để lại ấn tượng gì cả. Hai cách phối cho hai thí sinh cũng không khác nhau là nhiều, thôi cứ nói tại vội quá nên làm chưa kỹ.

Để làm được Idol, không chỉ cần giọng hát mà còn cần cả truyền thông đứng sau lưng. Đây cũng là một case tốt cho thấy Social Media bắt đầu chập chững phối hợp với traditional media. BGK của Vietnam Idol, ví dụ chị Diễm Quỳnh đã từng nhắc tới những khái niệm như fan page, mạng xã hội, comment … khi bình luận và rõ ràng cũng có một vài blogger (You-Know-Who) theo đuổi Vietnam Idol một cách “chuyên nghiệp”. Ngoài truyền hình, báo chí cũng có cái để nói khá nhiều về Idol và hãy xem họ nói về ai nhiều nhất? (click để phóng to hình nhé)

Vietnam Idol 2010 Infographic

Uyên Linh được nói tới nhiều nhất trên mặt báo (ở các vị trí nhập nhằng giữa advertorial và editorial, giữa paid-news và bài báo khách quan). Nếu không phải đây là một kịch bản hoàn hảo đã được dựng trước bởi các nhà tài trợ thì mình có thể giải thích theo một cách logic hơn là các nhà báo cũng đã ở độ tuổi “già” như mình, đương nhiên họ sẽ thích em Uyên Linh hơn. Sau Uyên Linh không phải Mai Hương mà là Lều Phương AnhĐăng Khoa với scandal của mình. Chị Siu được nhắc tới nhiều hơn anh Quốc Trung (mình thích nghe chị Siu hát và thích nghe nhạc anh Quốc Trung luôn nhưng có lẽ mình thích anh Quốc Trung nhận xét hơn chị Siu hơn trong kỳ Vietnam Idol này).

Coi thử cái tag cloud về Vietnam Idol của Baomoi xem sao! Quả thật Sao Mai Điểm Hẹn kỳ này có vẻ yếu thế so với Vietnam Idol về mặt truyền thông quá nhiều. Scandal “bật BGK” của một vài thí sinh và việc anh Tuấn Khanh tự dưng bắt thí sinh đi xin lỗi khán giá có lẽ chưa đủ để độc giả và thính giả chú ý (cá nhân mình ủng hộ việc bật BGK nếu thí sinh có đủ khả năng và lý lẽ để làm điều đó, nếu không thì đừng làm. Thí sinh không phải đi học tiểu học hay mẫu giáo mà đều là người trưởng thành rồi, tại sao có ý kiến đúng lại không được nói, không dám nói và không dám chịu trách nhiệm?) Nhìn thấy gì nào? Ngoài tên ra thì còn hai từ khóa mình quan tâm là Youtube và Facebook nằm trong tag cloud này. Mình rất ủng hộ việc dùng Youtube Channel để ghi lại phần hát của thí sinh sau buổi diễn. Có content tốt thì phải biết lưu trữ và phát tán content đó chứ? Fan Page chính thức của Vietnam Idol cũng thu hút được tương đối fans (Cho tới thời điểm này là hơn 39000 fans). Thống kê sơ bộ từ tool của mình thì thấy đã có hơn 3200 message của Fans post lên Page này và cũng có gần 500 message nói về Uyên Linh (ko biết nói tốt hay nói xấu), gần 400 message nói về Mai Hương (cũng không biết tốt hay xấu).

Rất tiếc em Mai Hương đã không có một Fan Page chính thức ngay từ đầu (cho tới giờ có khoảng 4 page về Mai Hương cùng hoạt động) và lượng fans của em tương đối tản mát. Trong khi đó, Uyên Linh có một Fan Page tập trung và có growth rate tương đối tốt.

Như vậy, mọi chỉ số về media đều đang nghiêng về phía Uyên Linh. BGK có lẽ cũng có một chút nghiêng về Uyên Linh (mình tách BGK thành anh Quốc Trung và chị Siu cho nó công bằng còn anh Dũng Khùng và chị Diễm Quỳnh thì vừa làm BGK vừa làm nhà sản xuất nên có lẽ kể vào cũng hơi unfair). Lợi thế về hát tiếng Anh để đi tiếp trong Asian Idol thì Uyên Linh cũng có nốt. Cá nhân mình có lẽ vẫn muốn em Mai Hương làm Idol hơn bởi như cái title mà mình đã viết, mở mắt ra thì Mai Hương có nhiều hơn Uyên Linh, thế nhưng đến lúc này thì chỉ còn biết chúc may mắn cho em Mai Hương và hy vọng chót cho em là giới trẻ ủng hộ em sẽ nhắn tin nhiều hơn so với giới “già” như mình thích Uyên Linh :mrgreen: