Awesome info-graphic. But, never try to limit yourself.
Sát thủ đầu mưng mủ & Coldplay
(Nguyễn Thành Phong, ảnh lấy từ Inlook.vn)
Hôm qua vừa mới nhận được cuốn Sát thủ đầu mưng mủ từ Tiki.vn buổi chiều tối thì tới đêm đọc luôn được tin “Thu hồi, xử lý … Sát thủ đầu mưng mủ“. Nghĩ cũng tội, đã mang danh là Sát thủ mà giờ lại bị thu hồi cả đống lại thì thật là.
Công bằng mà nói, cuốn sách có giá không hề rẻ. Tận 45000 đồng cho 30 phút đọc. Nếu với 45.000 có thể ngồi cf ngắm girl xinh gái đẹp cả buổi ở cf có tầm cỡ rồi. Bởi thế cho nên, ngay sau khi cuốn sách ra đời thì bản scan đã được phát tán trên VoZ làm tác giả bức xúc tới nỗi phải viết một bài “Gửi bạn ăn cắp” trên blog của mình đầy chua xót.
Về cơ bản thì các tác phẩm nghệ thuật trong thời đại số đều rất dễ bị dính vào vấn đề này. Vấn đề cốt lõi ở đây cũng là do tâm lý liên quan tới tiền. Tôi lấy của anh tờ 100000 đồng thì rõ ràng là phạm tội rồi, nhưng nếu tôi load trên mạng một phần mềm, một đĩa nhạc, một bộ phim, một cuốn sách có trị giá 100000 đồng hoặc hơn thì cảm giác tội lỗi trong tôi bé hơn rất nhiều. Túm lại cứ không nhìn thấy tiền trực tiếp, không thấy hàng trực tiếp là ít tội lỗi lắm (tôi không lấy cuốn sách sờ được, cầm được, chỉ là bản ol thôi mà!)
Coldplay là một trường hợp khác theo chiều hướng tích cực hơn so với Sát thủ đầu mưng mủ. Nhạc của Coldplay tung tóe khắp nơi trên Internet, ngay cả khi ký với EMI thì họ cũng muốn nhạc của họ phát hành trên iTunes không có DRM (nói ngắn gọn là không có bảo vệ gì hết, ai mua rồi copy cho người khác nghe cũng được). Kết quả ra sao?
Early sales indicate that DRM-free music is noticeably more popular than DRMed music, EMI senior VP Lauren Berkowitz recently told Bloomberg. The world’s third-largest music label began selling its music without copyright protections last month through Apple’s iTunes Store and reports back that sales have been “good.”
Berkowitz said that sales of Pink Floyd’s Dark Side of the Moon were up 350 percent in the week after iTunes Plus launched. That has since leveled off, but sales of the album are still up 272 percent since going DRM-free. As music industry blog Coolfer points out, digital sales for other EMI artists have risen as well, such as Smashing Pumpkins’ Siamese Dream (17 percent), Norah Jones’ Come Away with Me (24 percent), and Coldplay’s A Rush of Blood to the Head (115 percent). During that same time period, CD sales for those same albums dropped by 15 percent, 33 percent, and 24 percent, respectively.
(Src : Arstechnica)
Hai case này không hẳn giống nhau, bởi Coldplay hưởng lợi được rất nhiều từ việc cho phát tán thoải mái trên Internet nhạc của họ (đặc biệt là khi ai cũng hâm mộ rồi thì họ đi Tour sẽ thành công hơn rất nhiều) trong khi anh Phong chưa hưởng lợi được gì nhiều và đang ở giai đoạn đau khổ đầu tiên khi thấy đứa con mình phải suy nghĩ xém mưng mủ giờ lại được scan và cho download miễn phí trên mạng. Cá nhân mình cũng đã mua một cuốn Sát thủ đầu mưng mủ để ủng hộ Phong, tuy nhiên cũng nghĩ rằng :
- Khó để có thể chống lại Internet và cần có cái nhìn thực tế hơn về hiện trạng của Internet Việt Nam + việc thực thi Luật bản quyền ở Việt Nam
- Không chống lại được thì nên sử dụng sức mạnh của nó (điều này Hugh ở GapingVoid đã làm quá tốt). Không ai cấm Phong chèn vào trong ảnh của mình đường link dẫn tới trang web của Phong hoặc của cuốn sách, qua đó Phong có thể cho độc giả xem bản sketch, xem quá trình làm việc của mình (Phong đã làm rồi). Không ai cấm Phong sử dụng tranh của mình để làm các việc khác (ví dụ kết hợp với các hãng in áo thun để in áo có hình trong cuốn sách) và cho đi cuốn sách một cách miễn phí. Có nhiều hơn một cách là bán sách và chỉ bán sách để vẫn thấy vui, vẫn được mọi người nâng niu tài sản trí tuệ của mình + vẫn có tiền. Không ai cấm Nhã Nam tổ chức cuộc thi để thu thập tiếp các câu quote hay ho (và có thể biến thành meme nhỉ?) để Phong làm tiếp phần hai cả…
- CD giảm, doanh thu trên iTunes tăng (ở trên đã quote). Vậy thì cũng tới lúc phải đa dạng hóa và chấp nhận rằng người ta sẽ nâng niu cuốn sách của mình nằm ở dạng ebook trên iPod, trên iPad không kém phần so với việc cầm một cuốn sách thật. Cái này mà Nhã Nam nhảy vào thì tốt quá. (đã bán trên iOS).
Quản lý chung cư thời @
Mấy hôm nay đang tìm kế sách để phòng khi phải “cãi nhau” với BQL chung cư nhà mình về chuyện quyền được nuôi em Táo (một em Labrador), mình mới lạc vào diễn đàn chung cư Phú Mỹ Thuận (cụ thể là bài viết này). Thấy khá vui và cũng hơi buồn. Vui vì diễn đàn này hoạt động khá sôi nổi, các thể loại hội/nhóm tùm lum giữa các cư dân được thực hiện khá tốt. Đặc biệt có một cái cảm thấy rất vui là ngay trong bài viết đọc về chuyện nuôi chó ở chung cư, thấy có sự góp mặt của BQT chung cư. Có một chút buồn là đây là case quá hay về chuyện sử dụng môi trường online mà cho tới giờ mình mới biết (chắc nếu không có em Táo thì cũng không biết luôn
)
Tìm trên báo chí thêm thông tin thì móc ra được bài này “Họp mặt chung cư trên diễn đàn” đăng trên vnExpress, trong đó có vài đoạn khá hay.
Thực tế, nhiều cư dân ở những khu đại gia xảy ra nhiều tranh chấp với chủ đầu tư về phí trông xe, dịch vụ như Golden West Lake, Keangnam, Sky City đều có trang web riêng. Sau khi tập hợp được khách hàng, các cư dân ở đây đã thuê luật sư, bàn thảo phương án đối phó với chủ đầu tư và cuối cùng đều giành được chiến thắng.
Anh Mạnh Hùng, một cư dân ở Sky City cho hay, nhờ lập web riêng, cư dân đã tìm được những người chung cảnh ngộ. “Nhờ có trang web, chúng tôi có thể tạo thành một cộng đồng mạnh mẽ. Tất cả thông tin quan trọng được lưu lại làm bằng chứng phản đối chủ đầu tư nhờ vậy mà chúng tôi đã giành được thế chủ động”, anh Hùng chia sẻ.
Không chỉ họp bàn mỗi khi có vấn đề bức xúc, cộng đồng nhiều chung cư khác còn tổ chức hẳn website để thường xuyên cập nhật, thông báo cho nhau về tình hình khu nhà. Diễn đàn chung cư Phú Mỹ Hưng là một ví dụ. Ở đó, người dân chia sẻ cho nhau từ thông báo của Bản quản lý chung cư đến cách dạy con cái, chăm sóc sắc đẹp hay giới thiệu người giúp việc…
Lý do để lập diễn đàn trong khi dân cư trong chung cư thực ra có khi ngay sát vách nhau nhưng lại không chịu gõ cửa sang nhà nhau, nói chuyện trên Internet cho dễ :
Theo tìm hiểu của VnExpress.net, có nhiều lý do để việc lập diễn đàn tại các khu chung cư sôi động như hiện nay. Trước hết, đa phần người dân tại các khu chung cư đều quá bận rộn nên khó có thể gặp gỡ trực tiếp để họp dân phố như cách làm truyền thống. Trong khi đó lại tồn tại quá nhiều vấn đề bức xúc chung cần giải quyết, nên việc lập forum để trao đổi, cùng nhau đóng góp ý kiến là tất yếu.
Case này lại là một ví dụ tiêu biểu cho thấy rằng, cho dù bạn có nhắm mắt làm ngơ với môi trường Online thì có thể ngay đâu đó trên Internet vẫn có rất nhiều người đang nói về bạn, về sản phẩm/dịch vụ và thương hiệu của bạn (cả tốt lẫn xấu). Cách tốt nhất là tham gia thảo luận, cái tốt thì khuyến khích, cái xấu thì lao vào mà giải thích, tìm ra phương hướng giải quyết cùng khách hàng. Cách không tốt (và dễ làm) là mặc kệ xác các bạn muốn nói gì thì nói. Như ở diễn đàn chung cư Phú Mỹ Thuận, mình đã nhìn thấy diễn đàn này thay thế Bảng thông báo chung của chung cư khá tốt. Một điều băn khoăn duy nhất về việc sử dụng diễn đàn (cũng nhìn thấy luôn tại chung cư Phú Mỹ Thuận) là việc không sử dụng tên thật – chính danh. Trong đó cư dân bàn luận về một chú chó của nhà 4.x rất đẹp nhưng lại hay tè bậy ra thang máy. Việc không chính danh làm cho người ta dễ nói hơn nhưng cũng sẽ khó hơn trong việc tạo ảnh hưởng một cách chính thống lên những người có trách nhiệm.
Dù sao, vẫn khá happy về case này và thấy đây là cách sử dụng Online và Social Media khá hiệu quả tại Việt Nam một cách rất tự nhiên. Chắc khéo phải làm cái diễn đàn để bảo vệ quyền được nuôi em Táo trên chung cư Carina Plaza quá
.
Fan Page is NOT a tribe
Fan pages can be a great promotional tool. They can increase loyalty and deepen engagement with fans. But they’re terrible at building relationships between fans. Fan pages encourage their audience to interact them, not with each other. Even those that can encourage their fans to interact with each other, struggle to develop these conversations into relationships.
(Src : 5 Social Approaches Misleadingly Called Communities)
Wired: You’ve said that a tribe doesn’t have to be encouraged to connect, they want to connect with each other. And that you as the person in the center aren’t required to do anything.
Seth Godin : That part’s not true. It requires you to do a great deal. But what you don’t need to do is sell people on the fact that they want to connect. That’s human nature. We want to connect with like-minded people. What you have to do that’s very difficult is create the platform –- whether it’s a cocktail party or a technology -– where people can get over social friction, where people can make connections that would ordinarily feel awkward. So why does TED as a conference work? It works because after traveling all that way and paying all that money, it’s expected that you will join the TED tribe. Whereas if the TED conference didn’t exist and you just called people on the list and said why don’t 20 of us get together for coffee, that would be a weird phone call to make…. That’s part of what it means to make a movement – do something difficult to overcome the social friction.
Wired: So it’s all about sensing a need and filling the need and encouraging the connection.
Seth Godin: The need is always there -– the need to connect, to matter. I think the need comes and then the issue comes, not the other way around…. And what leaders do, whether they’re leading a small Christian evangelical community or trying to organize India to overthrow British imperialism … is they find a particular subset of people who also share a goal … and bring in the right people to support it. If it hadn’t been Al Gore, it could have been William F.Buckley who had led the fight against global warming and it could have been completely filled with people from the editorial pages of the Wall Street Journal…. It just happened that the leader who stood up and did it had a natural constituency, a constituency that was looking for the cause and the connection and the movement, and he was the man to do it…. My point is that people don’t become leaders because they have charisma; people get charisma because they’re leaders.
(Src : TED Interview: Tribes Author Says People, Not Ads, Build Social Networks)
Better solution is Facebook Group, imo. Launch (Vietnam), (FF) Foundation of Fun … are good examples.
(Update 20 Feb : Your Twitter Followers aren’t a community).
Top 10 blog công nghệ/PR+Marketing được bạn bè ưa chuộng nhất (2011)
Hôm trước có làm cái Poll (vui vẻ) trên Facebook để hỏi mọi người xem blog tiếng Anh hay đọc về công nghệ/PR+Markerting là gì, cũng thu được tới gần 300 votes và kết quả ra như sau (click để phóng to nhé) :
Top 3 có thể thấy rõ là các blog với mục đích chung, nhiều tác giả viết như Mashable, TechCrunch, RWW vẫn được ưa thích nhất. Cái này có lẽ là do kiến thức đa dạng, cập nhật, nhiều chiều. Blog của Seth Godin và Brian Solis (PR 2.0) là 2/10 blog do một tác giả viết về marketing nhưng vẫn được ưa chuộng. Điều này thì khỏi phải bàn bởi suy nghĩ của hai bác này quá dữ, có thể thay đổi được tới cả ngành Online Marketing/PR.
Bạn nào chưa vote thì vào vote tiếp hộ mình, bạn nào vote rồi có thể vào xem xem ngoài 10 blog này ra thì danh sách các blog được ưa chuộng còn bao gồm những blog nào tại đây.
Social Network – The Open Platform – Zing
Hôm qua, mình có tham gia hội thảo Social Network – The Open Platform do Zing Me đồng tổ chức với Go.vn tại khách sạn New World. Được mời với vai trò là diễn giả, mình cũng khá enjoy hội thảo với tư cách là người tham gia trong các phần trình bày của các diễn giả khác. Không khí New World tương đối phù hợp cho các event như thế này. Zing đã khá thành công trong việc thu hút được khá nhiều người tham dự, trong đó có đầy đủ sự có mặt của đại diện nhãn hàng, các anh chị agency, những người quan tâm tới Online Marketing nói chung và Social Media Marketing nói riêng.
Tham dự hội thảo với vai trò là diễn giả, mình khá khó khăn trong việc làm bài trình bày do Zing không công bố danh sách người tham dự giống như các event khác. Dường như điều này cũng xảy ra với một vài diễn giả khác trong việc không biết rõ người tham dự của mình là ai và dẫn tới việc không biết nói gì cho phù hợp. Cấu trúc của buổi hội thảo trong phần buổi sáng cũng chưa thực sự phù hợp. Nếu đã nhấn mạnh vào con số để nêu lên thành tựu và sức mạnh của local SNS thì nên tập trung vào điều này và đừng nên ngại ngần nếu như đấy là con số thật. Có lẽ sự ngại ngần đã khiến một số diễn giả phải giải thích khá nhiều và vòng vèo trước khi dẫn tới các con số thật.
Phần buổi chiều có lẽ nên đổi bài của Trọng lên trước bài nói của Cường – Eleven thì có lẽ flow sẽ đúng hơn và rõ hơn.
Nhìn chung, một cách khách quan mình cho rằng Zing và Go đã đi qua được bước đầu tiên : xây nền móng vững chắc và kiếm được đủ bột, đủ hồ cả về vật chất lẫn tinh thần một cách ổn định. Tuy vậy, Zing và Go trong những bước đi tới cần phải hỗ trợ tất cả những người muốn tham gia và đem lại lợi ích cho user của hai local SNS này. Đồng thời, họ phải chú tâm hơn tới việc việc vượt qua chính mình + support tốt cho các CP, Brand, Agency… Đây mới là thách thức thật sự trong giai đoạn này chứ không phải là việc vượt qua Facebook hay ai đó khác như mọi người vẫn nghĩ. Chủ quan mà nói, mình nghĩ user base của Zing và Go đã đủ thừa để các nhãn hàng xuất hiện trên đó tương tác + ai xuất hiện sớm trên môi trường mới thì người đó sẽ luôn được lợi (ngay kể cả có làm sai sớm thì cái sai sớm vẫn tốt hơn cái sai muộn).
Như đã nói trong hội thảo, bài trình bày của mình hơi dài, hơi tham. Tuy vậy, mình mong rằng thông qua các ví dụ của P&G, Dove, Lotte, Dell, Tiki.vn và Airasia, mọi người sẽ có cái nhìn đúng hơn về Social Media, cách tương tác, sai lầm và thành công của họ … Cũng như vậy, với các bài trình bày khác của Cường – Eleven, Trọng – VNG, Hiếu Apo, Tony Trương … mọi người sẽ hiểu sâu hơn về cách làm, khó khăn và cơ hội khi tiếp cận với Social Media. Dưới đây là bài slide trình bày trong buổi hội thảo hôm qua. Hy vọng sẽ nhận được sự góp ý của mọi người.
Note : với lời phát biểu của P&G năm 2008, mọi người có thể đọc kỹ hơn về tình huống đó tại đây.
Đâu là thuốc chữa cho bệnh dịch nghiện sử dụng chỉ số AVE?
Đợt này đang học hành chăm chỉ về media và các loại chỉ số, trong đó có một chỉ số là AVE rất khó hiểu (Advertising Value Equivalency). Khó hiểu vì giá trị của một bài PR được mặc định tính bằng 3 lần giá trị của quảng cáo trên diện tích in ra bài đó. Đại loại nếu bài PR chiếm nửa trang báo thì giá trị của bài đó sẽ bằng 1.5 trang báo nhưng đem bán quảng cáo.
Lược dịch bài này “AVEs are Disease – Here’s a Little Vaccine” dưới đây để xem các bạn debate và cứu chữa cái chỉ số có vẻ rất mơ hồ này như thế nào. Dịch sai chỗ nào, các bạn cứ chém chỗ đấy để mình còn biết mà sửa nhé.
Một trong những chỗ có thể coi là thực sự “xảo trá” trong việc đo đếm hiệu quả PR là việc sử dụng chỉ số AVE hay việc sử dụng giá trị quy đổi ra tiền của media để gán cho giá trị đem lại của bài PR. AVE thực sự là một trong những lỗ hổng dễ dàng bị công kích cho bất cứ ai đó cố gắng thử tính ROI cho hoạt động PR của mình dựa trên chỉ số này. Để làm cho mọi thứ tệ hại thêm, phép tính sơ hở trên lại tiếp tục được sử dụng trong việc đo đếm hiệu quả của Social Media. Ví dụ, một vài nghiên cứu khoa học đã cố gắng lượng hóa giá trị của các Fan trên Facebook Fan Page bằng cách quy giá trị của các Fan vào với giá trị CPM trong thế giới quảng cáo. Các bảng xếp hạng giá trị tác động của Online Media cũng cố gắng gắn cho online news và social media các đại lượng tiền bạc có giá trị tương ứng với giá phải bỏ ra để mua quảng cáo trên môi trường Online Media đó. Chỉ số AVE hay cách tính quy đổi nói chung kiểu này có thể được coi là một bệnh dịch lây lan ngày càng mạnh trong ngành PR.
Vào tháng 6 năm 2010, các chuyên gia PR từ khắp nơi đã nhóm họp tại Barcelona để soạn thảo ra Barcelona Principles, một tập hợp 7 nguyên tắc hữu ích cho toàn ngành PR để qua đó những người thực hiện PR có thể đo đếm được chính xác hơn giá trị mà mình mang lại. Một trong những nguyên tắc gây ra tranh cãi nhiều nhất trong hội thảo là nguyên tắc liên quan tới việc phủ định giá trị AVE dưới đây :
Advertising Value Equivalency (AVE) is Not the Value of Public Relations
Trong khi rất nhiều chuyên gia trong ngành đã công khai chống lại chỉ số AVEs từ rất nhiều năm một cách đơn độc thì nay cả thế giới dường như cũng đã bắt đầu quay lưng lại với chỉ số mù mờ này. Dưới đây là 4 lý do mà tác giả tin rằng chỉ số AVE sẽ biến mất trong thời gian tới :
1.AVE không đo đếm được kết quả thực tế
Việc gán giá trị cho một bài viết tương đương với (ba lần) giá trị của diện tích quảng cáo tương ứng với diện tích bài viết đó không thể chỉ ra được giá trị đích thực và ảnh hưởng mà bài báo đó mang lại cho/với độc giả. Bản thân những người làm quảng cáo cũng không đánh giá hiệu quả của quảng cáo thông qua việc họ phải bỏ ra bao nhiêu tiền để quảng cáo cơ mà? Hãy tưởng tượng một ông chủ doanh nghiệp hỏi giám đốc Marketing “Này cậu, năm nay chúng ta quảng cáo có tốt không?” và giám đốc Marketing trả lời rằng “Thưa anh, tốt lắm. Tôi đã tiêu hết 500.000 USD của công ty” (chứ không phải là hiệu quả mà 500.000 USD đó mang lại cho doanh nghiệp). Liệu giám đốc Marketing này có bị đuổi việc không? Giá trị đích thực của PR hay Social Media không phải chi phí để bài viết liên quan tới doanh nghiệp xuất hiện mà phải là hiệu quả mà bài viết đó đem lại cho các thương hiệu của doanh nghiệp, đem lại cho hình ảnh của doanh nghiệp và giá trị của các bài viết đó trong việc hỗ trợ các hoạt động marketing. Barcelona Principles cũng cổ vũ cho việc tập trung đo đếm các kết quả thực sự đem lại và đấy mới phần chìm của tảng băng mà từ trước tới nay chúng ta đã bỏ mặc.
2.Chỉ số AVE làm giảm giá trị của quan hệ công chúng (AVEs Reduce Public Relations to Media Relations)
Bạn khó lòng nói rằng bạn có giá nếu giá trị đó không thể đo đếm được hoặc đo đếm sai. Chỉ số AVE không chỉ ra được hiệu quả của một vài phần quan trọng trong PR bao gồm các tư vấn về mặt chiến lược của chuyên gia, truyền thông khi khủng hoảng, các giá trị được kích hoạt và nhân rộng bởi cộng đồng (ví dụ các chiến dịch viral). Nói cách khác, AVE đơn giản hóa quan hệ cộng đồng xuống thành quan hệ với các nhà báo/phóng viên/chủ website… với những người nắm giữ media hơn là với cộng đồng thật sự. Khi cần xử lý khủng hoảng, một bài PR được đăng tải trên đúng môi trường (báo chí, forum, blog…) sẽ có giá trị hơn rất nhiều so với 3 lần giá trị bình thường bạn bỏ ra để mua bài viết đó.
3.Chỉ số AVE cản trở việc đo đếm tích hợp nhiều môi trường khác nhau (Integrated Measurement)
Các chiến dịch marketing, branding tốt thường không sử dụng một môi trường cố định mà là một vài môi trường, kênh thông tin kết hợp với nhau. Thời đại của Internet (làm đa dạng hóa môi trường truyền thông) lại càng là một trong những thời đại mà chúng ta cần sự tích hợp chặt chẽ nhiều hơn nữa. Quảng cáo và PR vẫn thường phối hợp chung với nhau trong các chiến dịch này và đây là lý do để chỉ số AVE được sử dụng như một sự thay thế khi quy đổi giá trị ra tiền. Các nghiên cứu chỉ ra rằng quảng cáo khi được đặt trong một cộng đồng có thiện cảm (với thương hiệu) sẽ có hiệu quả hơn trong khi quảng cáo đặt trong một cộng đồng thiếu thiện cảm sẽ khó mà thành công hoặc sẽ có tác dụng ngược với người tiêu dùng. Chúng ta cũng đã nhìn thấy rằng quảng cáo (online/offline) cũng tạo tác động tốt hơn và dẫn tới các tương tác hiệu quả hơn (conversion rates cao hơn/sale?) trong các kênh Social Media khi được chạy đồng thời cùng nhau. Các chiến dịch và chương trình tích hợp thì cần có bộ chỉ số đo đếm mang tính chất tích hợp nhưng chỉ số AVE lại không đáp ứng được điều này. Nói cách khác, AVE sẽ dễ dàng bị cô lập trong môi trường digital và môi trường tích hợp.
4.Chỉ số AVE không cung cấp bất cứ giá trị nào cho việc phân tích/chuẩn đoán.
Ngày nay, quá nhiều năng lượng đã được sử dụng cho việc giữ vững các loại chỉ số (và con số) chứ không phải để dùng cho việc phân tích/chuẩn đoán (chỉ nhìn nhiều về WHAT chứ không nhìn về WHY). Đó là một trong những lý do tại sao các chỉ số tổng hợp đơn lẻ (được tính gộp từ rất nhiều các chỉ số khác) như Klout lại trở nên có giá trị với nhiều người. Tuy vậy, điều cốt lõi của việc đo đếm không phải là để đưa ra các con số mà là để tìm hiểu xem doanh nghiệp có đạt được chỉ tiêu với số tiền mình đã bỏ ra hay không, đâu là điểm chưa đạt, đâu là điểm đã đạt (hãy quay lại với con số 500K USD ở phần 1). Sử dụng AVE rất dễ làm doanh nghiệp hiểu lầm và có thể đưa tới các kết quả khả quan giả tạo (về những gì mình đạt được trong khi chẳng có bất cứ ai đọc bài PR đó).Khi người ta bớt quan tâm tới việc độc giả có hiểu được thông điệp truyền thông của mình hay không, độc giả có nói về mình hay không thì AVE sẽ trở nên quan trọng. Thế nhưng, lúc đó cũng là lúc mà bạn sẽ chẳng phân tích và tìm hiểu được nhiều điều từ chiến dịch PR của mình (hoặc giả bạn cũng không cần phân tích!)
Một vài người nói rằng Barcelona Principes là “cái kết của AVE”. Tác giả đồng ý thẳng thắn với nhận định này với một chút bổ sung “đây sẽ là điểm khởi đầu cho cái kết của AVE”. Cần có nhiều hơn những nghiên cứu và những chuyên gia chỉ ra những khái niệm mới, có ích hơn là chỉ số mơ hồ AVE để người ta có thể xác định được chính xác hơn giá trị của PR và Social Media trong các cuộc trao đổi phức tạp đang diễn ra hàng ngày trên nhiều kênh/môi trường khác nhau. Nghiện sử dụng AVE là một căn bệnh không hề dễ chữa. Chỉ có bằng chứng thực tế mới là phương thuốc hữu hiệu cho căn bệnh này.
Sharing is more than caring…
Sáng nay mới có thời gian ngồi đọc bài “Thị trường Social Bookmark tại VN” của bạn @khaivq và thảo luận trên Link Hay. Bài viết có phần thống kê khá chi tiết về nút nhúng chia sẻ trên các website Việt Nam hiện nay và có lẽ là thống kê đầy đủ nhất từ trước tới nay về phần này mà mình được thấy. Nghĩ tác giả cũng không cần tặng hoa hay ném trứng thối mà cần thảo luận nhiều hơn nên viết blog để gạch ra mấy ý chính mình muốn phản hồi :
- Có lẽ nên sử dụng Social News để thay thế cho Social Bookmarking, như vậy đúng với bản chất của các site hiện tại hơn. Mô hình Bookmark của Delicious có lẽ tới nay đã không còn phù hợp. Không chỉ đơn giản là chuyện socialize chức năng bookmark cho cá nhân mình, Social News giúp việc crowd-sourcing để tìm ra tin tức nổi bật nhất tốt hơn. Digg, Reddit, Mixx hay Linkhay đã “tiến hóa” từ Social Bookmarking Sites sang Social News. Facebook, Twitter, Zing Me xếp vào Social Bookmarking hay Social News cũng đều hơi cưỡng ép.
- Đã không còn là chuyện bookmark cho bản thân mình mà là chuyện crowd-source thì yếu tố cộng đồng rất quan trọng và sự gắn kết trong cộng đồng lại càng quan trọng. Đính lại cái hình về Reach và Affinity ở đây. Reach cao mà Affinity kém thì cũng không ổn, nhất là để làm crowd-source. Yếu tố cộng đồng và văn hóa cộng đồng cũng giúp giải thích việc tại sao có những link share trên cộng đồng này thì được tặng hoa, share trên cộng đồng kia thì bị ném đá hoặc không được ủng hộ (như việc bạn @vietbio có than thở tại LinkHay).
(pix courtesy of Stefano Maggi – Under Creative Commons License)
- Nhắc tới Làn sóng ngầm, nhớ tới Groundswell của Forrester. Càng trèo lên cao trong thang này, mức độ tương tác càng phức tạp. Đối với content ví dụ như của Baomoi.com thì đa phần vẫn là Spectator (chỉ xem, không làm gì hoặc thì thầm với nhau offline, chat, email), tiếp tới là Like (~ Spectator – tránh nghĩ rằng độc giả lười không ấn nút Like mà có thể do content không hay sao bắt người ta Like?), tiếp tới là comment hoặc share nhưng có comment riêng (~Critics + Conversationalists), cuối cùng mới là Creators – viết bài blog để đưa ý kiến của mình phản hồi lại bài báo. Chuyện đương nhiên cái gì dễ thì ai cũng làm, views là dễ nhất, like là dễ nhì, comment đã bắt đầu thấy khó rồi, share thì phải bài nào hay lắm mới share và nói lại ý trên là cũng phải hợp cộng đồng mới share, ko thì bài chả nổi lên hot, share mất công (<> bookmark là lưu lại cho bản thân).
- So sánh chung site nào hơn site nào là tương đối khó. So sánh xem với góc nhìn của người làm marketing cho content thì site nào tốt hơn site nào sẽ dễ hơn và có thể cân đong đo đếm được hơn (tuy vậy cũng tùy xem chiến lược content của người đó ra sao, quan hệ – affinity của người đó trong cộng đồng thế nào …) Vậy nên mới có rất nhiều người nói “Content is King, Context is God” là vậy. Tuy nhiên cũng nên để ý cái thang một chút. FB nó hơn các bạn khác như Zing Me/Twitter/G+ … vì nó có cả Like lẫn Share, nôm na là nó phủ được hai bậc thang, trong khi các bạn chỉ có một bậc (để có bậc Thích/Fav ~ Like thì mình phải vào tận site nhà các bạn chứ không đính lên site nhà mình được)
- Hồi xưa mọi người cũng hay nói, Sharing is Caring. Mình cho rằng Sharing mà giật lại title hay ho (thường hay gặp trên LinkHay) hoặc đưa ý kiến cá nhân của mình (thường hay gặp trên Twitter/Facebook) cũng là Creating, là sáng tạo thêm và mấp mé ở mức Creator rồi.
- Vậy, kết luận nếu với góc nhìn của một Marketer, mình đương nhiên sẽ cố gắng đặt hết tất cả các nút share lên site của mình nhưng cũng quan tâm tới việc content đó hợp với site nào mà cụ thể văn hóa cộng đồng ở site đó như thế nào, làm sao để tăng affinity trong cộng đồng (còn tăng reach thì đương nhiên ai cũng cố làm rồi, nhưng reach theo kiểu tôi có Fan Page 100K thành viên nhưng tôi post cái gì lên cũng chẳng có ai phản hồi cả thì tăng cũng không được bao nhiêu hiệu quả). Đương nhiên, mình cũng chấp nhận rằng share, comment là những tương tác ở mức cao nên nếu content của mình không tốt thì dù có nhúng cả 20 nút share của các site khác nhau cũng không ăn thua gì. Mình cũng sẽ có chiến lược riêng cho từng site khác nhau, không lẫn lộn giữa Social News (giống LinkHay, tin hot thì gần như toàn thiên hạ đều nhìn thấy) và SNS (tin mình post chỉ bạn mình/fan mình thấy) và cố gắng sao nếu content được share trên cả Social News lẫn SNS thì là mừng nhất.
6 quy tắc để nhân cách hóa (humanize) thương hiệu của bạn
Có khá nhiều ý kiến cho rằng mục tiêu tấn công của Google+ thực sự là Twitter chứ không phải là Facebook để qua đó chiếm lấy vị trí (ít nhất là) thứ 2 trong cuộc chiến về mạng xã hội. Còn hơi sớm để nói về Google+ bởi mạng xã hội này ít ra cũng vừa mới ra đời, đạt được 10 triệu người dùng sau 2 tuần ra mắt và vẫn còn rất nhiều vũ khí bí mật chưa ra mắt (ví dụ profile dành riêng cho doanh nghiệp…)
Trong khi đó, Twitter cũng đã ra đời từ năm 2006 (tới nay được 5 năm) và vẫn chưa rõ mình sẽ kiếm tiền theo cách nào ngoài việc quảng cáo qua những câu Twit (người dùng tự quảng cáo hoặc đặt qua dạng sponsor). Lật ngược lại câu hỏi, Twitter cung cấp khả năng đó nhưng liệu nó có thật sự có ích với người quản lý thương hiệu hay không, Douglas O’Donnell đã có một bài blog mang tên “Twitter Works, but Is It Working for Your Brand?” Điểm quan trọng nhất trong bài viết này có lẽ là 6 quy tắc để nhân cách hóa thương hiệu, những quy tắc hoàn toàn có thể áp dụng được cho bất cứ mạng xã hội nói chung nào chứ không phải chỉ riêng Twitter.
6 Rules of Humanizing Your Brand
- Be human and humble (this should come naturally).
- Follow the 80% (value add content)/20% (marketing) rule.
- Establish Twitter-specific objectives, strategy, and measurement, and optimize.
- Seek out your advocates and follow them first; don’t make them find you.
- Interact with customers, like you would with a friend in a coffee shop.
- Be relevant to their interests, be available to address their needs, and embrace negative comments as opportunities.
(Bonus rule: Fire your legal and editorial departments–unless they are solution biased.)
Cá nhân mình cũng áp dụng các quy tắc này (trừ quy tắc số 3 chưa có được một chiến lược thực sự rõ ràng) và thấy rằng rõ ràng người sử dụng luôn muốn nói chuyện với một con người – chứ không phải một cái máy.
Douglas O’Donnell cũng chỉ ra điểm khác biệt cơ bản giữa Twitter và Facebook, một điểm khác biệt chắc chắn khiến người quản trị thương hiệu rất nhọc. Đó là việc Twitter tập trung vào các cuộc đối thoại, càng tức thời bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Khách hàng hỏi, doanh nghiệp trả lời nhanh, khách hàng sướng. Khách hàng không hỏi nhưng doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng thông tin nhanh thì khách hàng cũng sướng. Một điều thú vị khác mà Douglas O’Donnell cũng mang lại là sự so sánh giữa Community Manager của Twitter và Facebook :
A community manager on Facebook will have a planned strategy, a content calendar, and some guidance on occasional real-time interactions. A community manager on Twitter should be on call, like a doctor.
Ngoài quy tắc số 3 thì có lẽ quy tắc số 6 (Be relevant to their interests, be available to address their needs, and embrace negative comments as opportunities.) cũng là một trong những quy tắc khó và gây cản trở lớn trong quá trình “nhân cách hóa” thương hiệu. Để làm tốt quy tắc này, người quản trị thương hiệu cần bỏ thời gian ra nghiên cứu cộng đồng những người follow mình, qua đó áp dụng quy tắc số 2, số 5 (đương nhiên là cả số 1) cho tốt. Không phải ai cũng có thời gian để làm việc này tốt bởi cũng như bạn bè, bạn không thể hiểu họ qua ngày một ngày hai mà cần cả quá trình lâu dài. Thêm nữa, hiểu được 1-2 người bạn thì dễ chứ hiểu được 1000-2000 rồi 1 triệu – 2 triệu người thì quả là điều không thể.
Twitter và Facebook đã tạo ra những ranh giới tương đối rõ rệt, vậy thì khi mà Google Plus sử dụng cái hay của cả hai để tạo ra sản phẩm cho riêng mình thì thực sự là … khó nói. Khó nói bởi nhiều khi nhiều cái hay quá đứng cùng với nhau chưa chắc đã hay. Trong lúc chờ đợi xem Google Plus tiếp tục phát triển ra sao, có lẽ hãy cứ làm tốt với các account liên quan tới thương hiệu của mình trên Facebook và Twitter đã.
Giá trị của user thay đổi khi môi trường truyền thông thay đổi
Mấy hôm nay có thấy hai cái Infographic khá hay : “The history of Networks” và “What is the network effect? The value of users explained“. Để nói tới giá trị của user và giá trị của network (mà user nằm trong đó) thì cần phải đi lại một lượt về lịch sử của truyền thông (xem Infographic đầu tiên).
Năm 1928, David Sarnoff thành lập NBC (National Broadcasting Company) tại Mỹ và sau đó là trở thành người quản lý của RCA (Radio Corporation of America). Quy luật của Sarnoff (Sarnoff’s law) đương nhiên cũng được áp dụng đặt trong bối cảnh giữa người nghe và trạm phát radio. Vì đây là quan hệ 1-nhiều nên một trạm phát có 100 người nghe sẽ có giá trị gấp 10 lần so với một trạm phát có 10 người nghe. Người nghe trong trường hợp này cũng không liên lạc được trực tiếp với nhau.
Quy luật Metcalfe gắn với tên của Robert Metcalfe, người sáng lập ra Ethernet (năm 1976) và đồng sáng lập 3Com. Trong một mạng có kết nối hai chiều giữa người sử dụng (chứ không phải quan hệ một chiều như trạm phát radio – người nghe) thì giá trị của network sẽ tỷ lệ thuận với bình phương của số người sử dụng. Nói cách khác, mạng điện thoại và các mạng cung cấp các kết nối Internet đơn giản như email khi có 100 thành viên sẽ có giá trị gấp 25 lần so với mạng cùng loại nhưng chỉ có 20 thành viên.
Quy luật Reed gắn với tên của David P.Reed (cũng xuất phát từ MIT giống Metcalfe). Quy luật này còn được gọi là “The Law of Pack” và được sử dụng cho các mạng xã hội ngày nay. Quy luật này nói rằng một network trong đó các thành viên có thể tạo ra các nhóm (group) bất kỳ tương tác với nhau có 100 thành viên sẽ có giá trị hơn 290 lần so với một mạng tương tự có 10 thành viên.
Một user tùy thuộc vào từng loại network và cách mà user đó có thể kết nối với các user khác để tạo ra giá trị chung cho network. Một mạng xã hội được quản lý chặt chẽ bởi nhà nước hoặc các tổ chức quản lý chỉ chăm chú truyền tải thông tin một chiều thì vẫn sẽ chỉ dừng lại ở quy luật Sarnoff mà không tận dụng hết giá trị của network như trong quy luật Reed khi số lượng thành viên tham gia tăng lên.
Một ví dụ khác dành cho sự thay đổi giá trị của user khi thay đổi network là Trang Vàng (Yellow Pages). Trang Vàng trong các cuốn danh bạ điện thoại (bản in giấy) chỉ có tác dụng thông tin một chiều, Trang Vàng + điện thoại sẽ mang lại giá trị như quy luật Metcalfe còn mô hình Trang Vàng mở rộng trên Internet như Yelp hay Thổ Địa cung cấp cho người sử dụng nhiều thông tin hơn và ngược lại, thông tin của người sử dụng cũng được coi trọng và có sức mạnh nhiều hơn.
Giá trị của user đã thay đổi khi họ tham gia vào những mạng xã hội. Vậy tại sao cứ bấu víu lấy những quy luật quảng cáo cũ – 1 chiều và vô tình – đánh giá thấp sức mạnh của user. Đến bao giờ marketer mới thực sự lắng nghe user?








Recent Comments