Bắc Ấn : ngoáy mũi ở Kolkata

Old street corner

Điểm cuối trong cuộc hành trình Bắc Ấn ngắn ngủi của chúng tôi là Kolkata. Nếu đã nói tới đạo Hồi với đế chế Mughal ở New Delhi-Agra, đạo Hindu với những nghi lễ lâu đời ở Varanasi, đạo Phật ở Bodh Gaya-Sarnath thì chắc hẳn cũng phải nói tới những người Anh ở Kolkata cho đủ. Người Anh không phải là những người châu Âu đến Ấn Độ đầu tiên (vì Vasco de Gama đã tới Kerala vào năm 1498) nhưng chắc chắn là những người châu Âu đã gây ảnh hưởng rõ rệt nhất lên quốc gia này. Suốt thế kỷ 19 cho tới đầu thế kỷ 20, Ấn Độ hùng mạnh đã nằm trong sự điều khiển của người Anh. Phải nhờ tới công lao của Mohandas Gandhi và tiếp đó là Nehru, Ấn Độ mới dành lại độc lập vào ngày 15/8/1947. Cái ngày mà đế chế British Raj kết thúc, cái ngày mà người Anh phải rời khỏi Ấn Độ cũng là ngày mà nước Anh bắt đầu mất dần vị trí của mình trên thế giới vào tay các nước mới nổi lên như Mỹ.

————————————————-

Yellow cabs of Kolkata

Thực ra trước khi đi Ấn Độ, trong đầu chỉ tâm niệm tới được 3 điểm là Taj Mahal, Varanasi và Bodh Gaya là ổn lắm rồi. Thế nên chúng tôi không có plan gì cụ thể cho Kolkata cả. Thời gian dành cho thành phố này cũng chỉ là 1 ngày rưỡi và kế hoạch đi chơi chỉ được phác thảo ra trong hơn 9 tiếng ngồi tàu hỏa từ Gaya tới Kolkata. Cảm giác đầu tiên là một thành phố ồn ào, đông đúc và tắc đường kinh khủng. Đi từ ga chính Sealdah về khách sạn bằng chiếc taxi vàng cổ kính y như taxi của New York (cái taxi của NY mới chỉ được xem phim chứ chưa được đi), tắm rửa và quay trở lại khu phố chính Park Street để ăn tối. Người Hindu thì thờ bò còn người Hồi giáo thì ghét lợn, do vậy thực đơn ăn uống của chúng tôi gần 10 ngày nay chỉ toàn gà. Hết Masala lại tới gà theo kiểu Afghan, ngon thì ngon thật mà ăn mãi cũng ngộp thở. Quyết định chọn Mocambo vì đơn giản quán ăn này nằm trong phần Multicuisine của Lonely Planet.

Phật tử mà chúng tôi gặp trên tàu hỏa đi từ Varanasi tới Gaya (được nhắc trong bài trước) là người Kolkata. Ông nói rằng khi tới Kolkata chúng tôi sẽ thấy một thành phố khác hẳn, biết cách hưởng thụ cuộc sống chứ không chỉ có lao động và lao động miệt mài như ở New Delhi. Quả thật là vậy! Mocambo đầy ắp những người đợi phía bên ngoài và chúng tôi cũng phải xếp hàng 30 phút mới được vào ăn. Quán tương đối sang, menu đa dạng, đồ ăn rẻ (tôm hùm ăn tính ra có 200K VND/đĩa), phục vụ chu đáo cho dù chúng tôi sau quãng thời gian dài đi tàu hỏa cũng khá nhem nhuốc. Tối đầu tiên tới Kolkata có lẽ là tối sang trọng nhất trong số các tối chúng tôi ở Ấn Độ.

————————————————-

Ngày hôm sau, đúng ngày Valentine lại quay trở lại chế độ tiết kiệm của những người đi bụi. Mặc dù taxi ở Kolkata khá rẻ (rẻ hơn ở VN) và rất nhiều nhưng chúng tôi quyết định sẽ đi thử tàu điện ngầm để tới các điểm thăm quan. Đã được đi gần hết các loại phương tiện di chuyển ở Ấn Độ, ở New Delhi thì được khuyên là không nên đi tàu điện ngầm vì không an toàn, ở Kolkata lại có tàu điện ngầm thì phải đi ngay. Không biết có an toàn hay không nhưng ba ngày chúng tôi tới Kolkata thì cả ba ngày có biểu tình nên cảnh sát đầy khắp nơi, tha hồ an toàn. Vé tàu điện ngầm thì quá rẻ (4 RP ~ 2000 đồng cho một chặng tốn khoảng 100 RP tiền taxi).

Victoria Memorial - European clone of Taj Mahal

Phần lớn những điểm thăm quan du lịch nổi tiếng tại Kolkata thì đều có dính tới người Anh. Người Anh đã từng định xây một khu London thu nhỏ ở đây, vậy nên không lạ gì khi có vườn hoa, nhà thờ và các khu nhà kiểu phương Tây. Tuy nhiên điểm thăm quan nổi bật nhất của Kolkata chịu ảnh hưởng của người anh là Victoria Memorial lại là phiên bản châu Âu clone lại của Taj Mahal – cầu kỳ, rườm rà và vô hồn hơn Taj rất nhiều. Một trong những điểm thăm quan nhiều màu sắc khác mà bạn có thể đến được là đền thờ của người theo đạo Jain, nhiều màu sắc, nhiều phong cách (châu Âu xen lẫn châu Á) hơn cả các tòa thành Cao Đài tại Việt Nam. Thứ hai ở Ấn Độ lại là ngày nghỉ, vậy nên ngoài đền thờ của người Jain, các địa điểm nổi tiếng khác như bảo tàng Ấn Độ, Victoria Memorial, Marble Palace chúng tôi đều chỉ được đứng ngoài nhìn, quả thật là xui quá!

Không biết có phải do biểu tình hay không mà Kolkata trong những ngày chúng tôi đến tắc đường kinh khủng khiếp. Bạn có thể ngồi trên taxi tới cả 1h chỉ để nhích được chưa tới 1km. Là thành phố lớn thứ hai của Ấn Độ, Kolkata có tới 15 triệu dân, đủ để xếp hạng metro-city. Không hiểu cho tới khi Sài Gòn và Hà Nội phát triển thành metro-city mà lại không có hệ thống tàu điện ngầm thì mọi chuyện sẽ còn tồi tệ như thế nào. Tuy vậy, việc tắc đường lại cho chúng tôi một trải nghiệm thú vị khi quyết định đi bộ dọc theo các con phố khác nhau để tìm bến tàu điện ngầm trở về nhà. Chỉ khi đi bộ qua các con phố khác nhau của một thành phố, bạn mới cảm nhận được rõ nhịp sống của thành phố này.

Nếu Ấn Độ là một trong những quốc gia ô nhiễm nhất thế giới thì Kolkata được bầu là thủ đô ô nhiễm của quốc gia này. Theo thống kê thì cứ 10 người ở Kolkata lại có 7 người bị mắc các loại bệnh khác nhau và một năm thì có 18/100.000 người bị mắc ung thư phổi. Quả thật tới Kolkata, tôi bắt đầu hắt xì liên tục và thấy cả những người dân bản địa xung quanh cũng hắt xì như vậy. Mũi thì đen xì, đi tàu điện ngầm cả một ngày mới phát hiện ra do mình đứng ngay dưới quạt thông hơi của tàu điện ngầm nên muội bay vào mũi.

————————————————-

Poetic or chaotic city, Kolkata?

Bỏ qua tất cả những điều phiền toái trên, Kolkata còn được biết tới như trung tâm văn hóa nghệ thuật của Ấn Độ. Thành phố của mẹ Teresa chắc hẳn sẽ luôn tự hào về nhà thơ vĩ đại Tagore, người đã được giải Nobel văn học năm 1913 với tập Thơ Dâng. Kolkata với những ngôi nhà cổ theo phong cách châu Âu, với các loại xe đủ kiểu đầy màu sắc, với những tấm sari dài 5-7 mét được phơi ở cửa sổ thực ra cũng rất nên thơ. Thế nhưng, có lẽ bạn chỉ có thể cảm nhận được điều này khi bạn tâm niệm trong đầu rằng bạn là khách du lịch, bạn rất rảnh, bạn tới đây chỉ với mong muốn tìm hiểu và khám phá Ấn Độ. Nếu không chấp nhận những điều trên, sợ rằng bạn sẽ khó có thể kiên nhẫn với một Kolkata đầy ắp người và xe. Phải chăng, đó là lý do khiến Tagore đã viết trong tập Thơ Dâng của mình như sau :

Thời gian là vô tận trong tay Người, hỡi Chúa của con. Không ai đếm được những phút của Ngườì

Ngày và đêm qua đi, năm tháng nở rồi tàn như những bông hoa. Người biết chờ đợi.

Những thế kỉ của Người nối nhau hoàn thiện một bông hoa dại nhỏ nhoi.

Chúng con không có thời gian để mất, và vì không có thời gian, chúng con phải giành giật cơ hội.

Chúng con quá nghèo nên không thể chậm trễ.

Và như vậy thời gian trôi qua, trong khi con trao nó cho bất cứ ai cáu kỉnh đòi hỏi nó, và bàn thờ của Người không có bất kì lễ vật gì.

Lúc ngày tàn, con vội vã vì sợ chẳng may cửa của Người sẽ đóng; nhưng rồi con nhận thấy vẫn còn thời gian.

Kỉ niệm vui cuối cùng khi rời khỏi Ấn Độ là tại sân bay DumDum, sân bay quốc tế ở Kolkata. Khi đi qua cửa biên phòng để đóng dấu xuất cảnh vào hộ chiếu, chúng tôi đã bị giữ lại bởi không có visa vào Malaysia. Mất công giải thích hơn 15 phút cho đủ các officer đang lần lượt gọi nhau ra xem vì có một “interesting case”, khi đã được đóng dấu xuất cảnh và lên phòng chờ lại tiếp tục có một officer khác mặt mày rất nghiêm trọng lên hỏi lại và lại tiếp tục được nghe giải thích rằng, Việt Nam thuộc Đông Nam Á nên vào Malaysia không cần hộ chiếu. Tagore nói “không còn thời gian” chứ chúng tôi thấy các officer ở Kolkata có rất nhiều thời gian mới đúng!

————————————————-

Rời khỏi Ấn Độ, quay trở quá cảnh tại Kuala Lumpur 14 tiếng, khi đi thăm tháp Petronas thật trùng hợp chúng tôi lại ngồi đúng xe của một bác tài gốc Ấn. Sở dĩ nhận ra được gốc Ấn vì bác tài có thờ thần Ganesh. Tuy nhiên bác tài lại sinh ra ở Malaysia và chưa từng sống tại Ấn Độ bao giờ. Nếu người Ấn Độ không mấy ai biết tới Việt Nam là quốc gia nào thì bác tài xế taxi này lại biết rõ Việt Nam vì có xem SeaGames và ấn tượng lớn nhất về Việt Nam của bác là xe máy và còi xe máy. Nghĩ bụng, quả thật có khi chả có cái quốc gia nào trên thế giới lại có nhiều xe máy như Việt Nam. Bác tài cũng nói rằng nếu có quay trở lại Ấn Độ, chắc chỉ quay lại để hành hương và cúng tế chứ không bao giờ có ý định sống ở Ấn Độ.

10 ngày là rất ngắn để cảm nhận được hết mọi thứ, thế nhưng không biết có phải vì đi du lịch hay không mà chúng tôi cảm giác Ấn Độ quả thật rất Incredible, đúng như cái tên campaign Incredible India mà Bộ Du Lịch Ấn Độ đã thực hiện. Người Ấn Độ tương đối thân thiện và thích giúp đỡ người khác khi có thể. Lại nghĩ bụng, có phải do gặp sơ nên mới quý mến nhau nhiều thế hay chăng? Chỉ biết rằng, khi đi Ấn Độ về đã học được nhiều hơn cách đối mặt và hưởng thụ mọi điều bất ngờ xảy đến trong cuộc sống. Chắc chắn sẽ còn những chuyến đi tiếp tới Ấn Độ, tới các vùng khác, gặp và nói chuyện với những con người khác, những sự bất ngờ khác trong tương lai gần!!!

Bắc Ấn : Sarnath – Bodh Gaya : đạo Phật không phải là tôn giáo

Pilgrims at Bodgaya

Trên chuyến tàu đi từ Varanasi tới Bodh Gaya (được biết tới ở Việt Nam với tên Bồ Đề Đạo Tràng), tôi lại có dịp nói chuyện với một người dân bản địa khác. Đây là một Phật tử người Ấn Độ, một Phật tử hiếm hoi của Ấn Độ (vì mặc dù Ấn Độ có tới 3/4 nơi được coi là thánh địa của đạo Phật và cũng là nơi khởi điểm của đạo Phật thì hiện tại chỉ có chưa tới 1% dân số theo đạo Phật). Phật tử này sau khi nghe tôi nói rằng tôi là người không theo tôn giáo nào, nhưng trong tất cả các tôn giáo mà tôi biết tới thì có lẽ là tự mình cảm thấy gần với đạo Phật nhất thì liền nói ngay với tôi : đạo Phật không phải là tôn giáo, Phật chỉ có chỉ đường cho chúng ta tự giải thoát mình và nếu chúng ta cảm thấy là Phật đúng, chúng ta đi theo và thực hành lời chỉ dạy của ngài một cách tự nguyện. Vậy thôi.

————————————————————

Có 4 địa điểm được coi là các địa điểm mà bất cứ Phật tử nào cũng nên đến thăm một lần (ông cậu tôi còn nói rằng, đến được đó là coi như nhìn thấy Phật) : nơi Phật sinh (Lumbini), nơi Phật đắc đạo (Bodh Gaya), nơi Phật giảng bài giảng đầu tiên (Sarnath), nơi Phật lên cõi niết bàn (Kushinagar). Trong 4 địa điểm này, chỉ có duy nhất Lumbini là thuộc Nepal, 3 địa điểm còn lại thuộc Ấn Độ. Hành trình ngắn ngủi của chúng tôi chỉ đủ thời gian để đi thăm được hai địa điểm là Sarnath và Bodh Gaya.

Bàn về tôn giáo là một trong những chủ đề khó bàn, mà cũng chẳng biết gì nhiều để bàn. Thế nên chỉ dám kể một vài điều về Phật giáo ở Ấn Độ. Điều thứ nhất, ở thời hiện đại thì hầu như những thánh tích Phật giáo được tu bổ, khai quật … đều nhờ công lao của các nhà khảo cổ người Anh. Bắt đầu từ khi đạo Hồi tràn vào Ấn Độ từ cuối thế kỷ 12, ngay cả Hindu giáo chứ chưa nói tới Phật giáo cũng đã bị chà đạp không thương tiếc. Đạo Phật lúc này nhanh chóng hòa nhập với đạo Hindu để cùng tồn tại một cách âm thầm (và rất nhiều người dân theo đạo Hindu vẫn coi Phật là một trong những vị thần của họ). Sự chấn hưng của đạo Phật thời hiện đại chỉ được bắt đầu vào năm 1891 do người lãnh đạo Phật giáo tại Sri Lanka, Anagarika Dharmapala thành lập ra Maha Bodhi Society với nhiệm vụ phát triển Phật giáo tại quê hương của nó. Phong trào này được bắt đầu từ Sarnath (nơi Phật đã giảng kinh Chuyển Pháp Luân cho 5 anh em nhà Kiều Trần Như) và sau đó được lan rộng một cách khiêm tốn ra các vùng xung quanh.

Glorious Dhamek Stupa

Một trong những công lao khai quật của người Anh là đã khai quật ra các trụ đá của vua Ashoka (tiếng Việt là vua A-dục), một trong những ông vua đã được ghi lại rất nhiều trong các văn bản (kể cả văn bản của nhà sư Đường Tam Tạng khi đi thỉnh kinh qua đây). Tuy được ghi chép lại nhiều nhưng cho tới khi được khai quật lên, hầu hết các nhà sử học vẫn cho rằng đây chỉ là một vị vua có trong truyền thuyết và được dựng lên chứ không có thật. Phải tới khi khai quật được cột đá và tu viện tại Sarnath, các nhà sử học mới tin rằng ông vua này có thật. Không chỉ tin, họ còn làm rõ được khá nhiều về vị vua có thân thế đặc biệt này.

Để nói về vua A-dục, thường người ta sẽ chia ra thành hai phần, một phần đầu nói về việc lên ngôi và mở rộng bờ cõi của ông vua này. Đây là một trong những thời kỳ đen tối và tàn ác, đỉnh điểm là cuộc chiến Kalinga với việc gần 150.000 người bị chết và bị thương. Phần thứ hai nói về việc đức vua A-dục sau khi thấy biển máu ở Kalinga đã ngộ Phật và tiếp tục xây dựng vương quốc của mình dựa trên các giá trị bình đẳng, bác ái trong kinh Phật. Theo sử sách ghi lại, vương quốc của A-dục có lẽ là vương quốc đầu tiên có bệnh viện dành cho người nghèo và cho thú vật! Vua A-dục cũng đã cho dựng các cột đá (Thạch Trụ), trên đó có ghi lại những lời răn của bản thân mình để khuyên bảo dân chúng phải sống hòa bình, bác ái, làm điều thiện, không sát sinh…

Ấn độ có 1% dân số là đạo Phật, thế còn các đạo khác thì chiếm bao nhiêu %? Theo Lonely Planet, 82% theo đạo Hindu, 12% theo đạo Hồi, 2.3% theo đạo Thiên Chúa, 1% theo đạo Phật, 0.4% theo Jainism (Kỳ na giáo) và số còn lại theo các đạo khác. Thế nhưng, ở chính giữa lá cờ của Ấn Độ với ba màu : màu xanh Ấn Độ, màu trắng và màu vàng saffron lại là bánh xe Ashoka Chakra, bánh xe được đặt trên cùng của các Thạch Trụ thể hiện cho vòng luân hồi, cho sự chuyển động giữa cái sống và cái chết và cũng là để thể hiện sự năng động trong hòa bình. Biểu tượng (Emblem) của Ấn Độ cũng là hình 4 con sư tử quay lưng vào nhau, biểu tượng thường thấy tại các Thạch trụ của vua A-dục. Lá cờ của dân tộc Ấn Độ độc lập với dấu ấn của Phật đã được Mahatma Gandi đề cử và được thông qua chính thức vào năm 1947. Cho dù chỉ chiếm một phần nhỏ trong dân số của Ấn Độ thì có lẽ con đường Trung Đạo, con đường hòa bình của đạo Phật và sự chuyển hóa từ ác sang thiện của vua A-dục (cũng nhờ đạo Phật) có lẽ là lý do chính để bánh xe Ashoka Chara và đầu sư tử được chọn làm biểu tượng cho dân tộc này.

————————————————————

One flower for Buddha, one flower for the peace
Trái với sự ồn ào tới đầy ứ ở Varanasi, chúng tôi thực sự cảm thấy yên bình ở Sarnath và Bodh Gaya. Không chào mời, không chèo kéo, không ép buộc khách hành hương làm bất cứ điều gì, những người dân bản địa và cả những người Tạng bán hàng tại Bodh Gaya dường như cũng quan tâm tới việc làm sao để lòng mình thanh thản hơn là tiền bạc. Bữa ăn tại Tibetan Om Cafe ở tầng trệt đằng sau một ngôi chùa của người Tạng tại Bodh Gaya cũng khiến cho chúng tôi có cảm giác rất thanh bình, rất Tibet mặc dù chưa có dịp được tới Tibet lần nào.

Đạo Phật không phải là tôn giáo. Có lẽ Phật tử người Ấn trên tàu hỏa khi nói với tôi điều đó, đã muốn nêu bật con đường Trung đạo, con đường hòa bình không ép buộc của Phật giáo nếu so sánh với các tôn giáo khác có phần cực đoan hơn trên đất Ấn. Đến được Sarnath và Bodh Gaya, hai trong bốn địa điểm mà Phật tử nào trên thế giới cũng muốn hành hương tới, tôi không nhìn thấy Phật ở đó như ông cậu của tôi nói. Tôi chỉ nhìn thấy sự thanh thản trong ánh mắt của bà chủ quán Tibetan Om Cafe khi giúp cho khách thập phương ăn ngon với giá rẻ, chỉ nhìn thấy ngọn tháp Mahabohdi bằng đá trắng (Đại Giác Ngộ Tự) không sơn son thếp vàng, không màu mè được hàng vạn Phật tử mặc áo cà sa cúi lạy. Chợt nhủ rằng cứ cố gắng sống thanh thản được như thế này đã là hạnh phúc lắm rồi!

Bắc Ấn : New Delhi – Agra với những công trình Hồi giáo tráng lệ

In the Chatta Chowk Bazar / Meena Bazaar of Red Fort

Chỉ có 10 ngày là quá ngắn ngủi để hiểu về một đất nước, nhất là một đất nước đặc biệt như Ấn Độ. Ở Ấn Độ có tất cả mọi thứ đối chọi với nhau nhưng lại tồn tại cùng với nhau theo một cách kỳ lạ. Không kỳ lạ làm sao được khi một đất nước có tới hơn 2000 đẳng cấp (chính và phụ) khác nhau, hơn 22000 ngôn ngữ và thổ ngữ cùng với hơn 300 cách nấu một củ khoai tây? Không kỳ lạ làm sao được khi một đất nước có tới 81% người Hindu nhưng vào tháng 5/2004, một người theo đạo Thiên Chúa, gốc Ý lại được bầu lên dẫn đầu chính phủ (bà Sonia Gandhi) rồi sau đó đã khôn khéo từ chức để chuyển giao cho một người Sikh (Dr Manmohan Singh) trong lúc tổng thống của đất nước này lại là một người theo đạo Hồi (tổng thống Abdul Kalam). Không kỳ lạ làm sao được khi hai người Ấn gặp nhau trên tàu hỏa, trên máy bay nếu không quen biết nhau sẽ nói chuyên với nhau bằng … tiếng Anh trước khi xác định xem mình có nói chung một thứ ngôn ngữ hay không. Dường như mọi thứ ở Ấn Độ đều là số nhiều, đều phức tạp, đều có lý do của nó và đều liên quan đến một điều gì khác. Thế nhưng tất cả những thứ này lại hòa quyện vào với nhau quyến rũ tới kỳ lạ. Người Ấn nói rằng, ở Ấn Độ không có bất cứ dân tộc nào là dân tộc thiểu số (hoặc dân tộc nào cũng là dân tộc thiểu số hết cả), vì vậy để khám phá hết có lẽ chắc cả đời cũng không hết. Với hành trình New Delhi – Agra – Varanasi – Bodgaya – Kolkata, tôi sẽ viết một chùm các bài thuật lại chuyến đi của mình pha lẫn cảm nhận riêng của mình để cố gắng thuyết phục người đọc rằng đây thực sự là một đất nước mà bạn nên đến, nên dành một lát cắt thời gian của cuộc đời để nhấm nháp nó.

————————-

Reflection

Bài đầu tiên, viết về New Delhi và Agra. Nhắc tới Ấn Độ, không thể không nhắc tới Taj Mahal, một trong 7 kỳ quan hiện đại của thế giới và có lẽ cũng là một trong những danh lam thắng cảnh được du khách khắp nơi chụp ảnh nhiều nhất thế giới. Thế nhưng, để tóm gọn lại vể New Delhi và Agra trong vòng một từ thì chắc chắn đó sẽ là Mughal.

Mughal là một đế chế bắt đầu từ thế kỷ 16, sau đó đã phủ rộng gần như toàn bộ Ấn độ trong thế kỷ 17 và 18. Người khởi đầu Mughal là Zahir Babur, có cha là hậu duệ của những người Timur (đoạn này xin xem thêm Wikipedia để tránh bị loãng), mẹ là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn. Thời đại này cũng là thời đại rực rỡ nhất của đế chế Mughal, kéo dài cho tới năm 1707 bởi cái chết của Hoàng đế Aurangzeb.

Tại sao lại nói tới Mughal khi đi thăm New Delhi và Agra? Bởi vì những công trình đồ sộ nhất, đẹp nhất và đáng chiêm ngưỡng nhất còn sót lại bây giờ tại New Delhi và Agra đều được xây dựng bởi những ông vua của đế chế này. Bởi vì Agra là nơi mà Babur đã đánh chiếm và lấy nó làm nền tảng để phát triển nên đế chế này. Lần theo lịch sử của Mughal, các di sản thế giới tại New Delhi và Agra bao gồm có :

  • Agra Fort : tòa thành của Agra đã được xây dựng từ trước thời Mughal và sau này được các vua Mughal sử dụng để làm nơi điều hành đất nước
  • Humayun’s Tomb : lăng mộ của hoàng đế Humayun, con của Babur
  • Fathehpur Sikri : thành phố được Akbar, con của Humayun xây dựng. Akbar là vua thứ 3 của triều đại Mughal cổ điển và cũng là ông vua chói sáng nhất trong triều đại này nhưng cũng là ông vua đã đàn áp đạo Hindu dã man nhất để áp đặt người dân Ấn Độ lúc đó phải theo đạo Hồi.
  • Red Fort : thành cổ nằm trong vùng Old Delhi, được xây dựng bởi Shah Jahan, cháu của Akbar. Sau khi thành này được xây dựng thì nơi điều hành đất nước đã được chuyển từ Agra về Delhi (cách nhau khoảng 200km)
  • Taj Mahal : ngôi mộ được dành cho người vợ thứ 3 của Shah Jahan, người đã chết trong khi sinh đứa con thứ 14 cho ông vua này.

————————-

Taj Mahal from Agra Fort

Quãng thời gian tại New Delhi – Agra chỉ có trọn vẹn hai ngày (thực ra có 4 ngày nhưng có 2 ngày đã di chuyển rồi), do đó chúng tôi quyết định sẽ tập trung vào đi thăm Red Fort, Agra Fort và quan trọng nhất là Taj Mahal, bởi cũng “háo danh” như mọi người khác, nếu đến Ấn Độ mà không thăm Taj Mahal thì đến làm gì? Đi tàu hỏa từ New Delhi tới Agra vào đầu giờ chiều, check-in tại khách sạn và bổ nhào đi thăm Agra Fort bởi đây là một trong những nơi có thể ngắm nhìn Taj Mahal một cách rõ nhất. Sau đó đi ngủ để sáng hôm sau dậy sớm. Taj Mahal bắt đầu mở cửa vào lúc 6 giờ sáng. Chính xác hơn, Taj mở cửa bắt đầu khi nào mặt trời mọc. 6 giờ sáng mặt trời không mọc thì không mở. 6h30′ có mặt tại cửa Đông và bắt đầu xếp hàng vào thăm Taj. Nhận thấy đây là một trong những điểm quan trọng trong hành trình của mình, chúng tôi đồng ý thuê một anh guider người Ấn (nhưng nói tiếng Anh khá Anh) để hướng dẫn với giá tương đối chấp nhận được (300 RP ~ 150.000 VND cho 2h đồng hồ). Nếu bạn nhìn bức ảnh ở đoạn trên sẽ thấy Taj Mahal buổi sáng sớm có màu vàng, trong khi nắng lên cao thì lại có màu trắng và nếu bạn không chịu khó dậy sớm, bạn sẽ không được chiêm ngưỡng Taj Mahal được nhuộm nắng vàng.

Vào Taj Mahal phải đi qua cửa an ninh khám xét rất kỹ. Không được mang chất nổ (đương nhiên!), không được mang tripod, không được mang đồ sắc nhọn, không được mang thức ăn (và trên biển cấm mang cả di động nhưng anh guider nói giờ mà cấm di động thì chết, ai chả có di động). Túm lại, không được mang bất cứ thứ gì có thể làm ảnh hưởng tới Taj. Mất tới 20 phút để xếp hàng và được kiểm tra mới vào được, may mắn là lúc đó mặt trời vẫn chưa lên cao.

Taj Mahal là một công trình thực sự vĩ đại và gây choáng ngợp cho bất cứ ai tới thăm nó. Được xây dựng mất 22 năm, trong đó có 17 năm chỉ dành để xây dựng lăng mộ bằng đá cẩm thạch trắng và 5 năm còn lại để xây các công trình xung quanh. Taj Mahal được xây một cách đối xứng tới hoàn hảo vào cái thời mà người ta còn chưa có máy tính và các công cụ hỗ trợ hiện đại như bây giờ. Tuy vậy, trong lúc xây dựng Taj Mahal, người con út và cũng là người con giỏi nhất của vua Shah Jahan là Aurangzeb đã lần lượt giết chết các anh trai của mình để sau khi hoàn thành Taj Mahal 5 năm, Aurangzeb đã chiếm ngôi của Shah Jahan và nhốt ông này vào trong Agra Fort (thật ra cũng không oan vì chính Shah Jahan cũng đã từng giết hết những người anh em họ của mình để lên ngôi). Trong 8 năm còn lại của cuộc đời, vua Shah Jahan chỉ còn có thể được nhìn thấy ngôi mộ của người vợ yêu từ cách xa 2km. Trước khi chết, Aurangzeb đã cho Shah Jahan một ước nguyện cuối cùng và ông này đã ước mình được chôn cạnh người vợ yêu của mình. Vì vậy, điều bất đối xứng duy nhất trong toàn bộ cả công trình Taj Mahal chính là phòng mộ nằm chính giữa. Trước đây, phòng mộ này chỉ có duy nhất một ngôi mộ của bà hoàng hậu thứ ba nằm ở giữa, tuy vậy sau khi Shah Jahan chết đã được đặt cạnh ngôi mộ này về phía bên trái.

Trước khi cùng đi vào viếng mộ hoàng hậu và chỉ cho chúng tôi thấy những chi tiết tỉ mỉ hơn, anh guider nói rằng Shah Jahan khi xây dựng Taj Mahal đã không hề muốn xây một lăng mộ. Ông muốn xây một cung điện thật đẹp, nằm ở giữa đất và trời và là nơi mà mọi người sẽ còn tới thăm bà hoàng hậu thứ ba – vợ yêu của ông. Quả thật, cho tới bây giờ ngay cả khi đã bị quân Anh gỡ hết vàng bạc, đá quí trang trí thì Taj Mahal vẫn thực sự là một công trình hoàn mỹ khiến người ta phải ngưỡng mộ.

Phải rời khỏi Agra vào buổi chiều cùng ngày cho đúng với lịch di chuyển, chúng tôi vẫn cố nấn ná trên tầng thượng của khách sạn Taj Plaza, cách cửa đông của Taj Mahal khoảng 600m để thưởng thức một ly Chai (trà pha sữa, gừng, hồi… đun nóng) và lặng im ngắm Taj Mahal. Đó thực sự là một trong những biểu tượng rõ ràng nhất của đất nước Ấn Độ với tất cả các mâu thuẫn đan xen, hòa quyện với nhau. Ai tưởng tượng được một đế chế đã đánh Đông dẹp Tây, đàn áp, giết người không ghê tay, phá hủy đền đài của người Hindu để bắt họ phải theo đạo Hồi lại có thể có một ông vua dành hơn 20 năm để xây nên công trình tình yêu đẹp và lãng mạn tới mức mà Tagore đã phải gọi nó là “A tear drop on the cheek of time”?

————————-

4 ngày đầu tiên ở Bắc Ấn với New Delhi và Agra đã giúp chúng tôi làm quen dần với người Ấn Độ, với cách họ đồng ý (gật đầu sang một bên chứ không phải lắc đầu như mọi người vẫn nói), với giá cả, với những đám đông xe cộ chạy bạt mạng trên đường, với hệ thống đường sắt của Ấn Độ. Trên chuyến tàu quay trở về New Delhi để bay tới Varanasi, chúng tôi gặp một anh bác sỹ thú y người Ấn. Điều ngạc nhiên nhất là anh này có một cô bạn người Việt Nam … quen qua Internet chat và thậm chí anh bác sỹ còn gọi điện thoại cho cô bạn này để khoe rằng gặp hai người Việt Nam trên tàu. Thế giới quá phẳng, phải không? Thế nhưng, nếu Tom Friedman mà tới Ấn Độ, đặc biệt tới Varanasi (sẽ được nói tới trong phần tiếp theo) thì chắc chắn ông này sẽ phải suy nghĩ lại rất kỹ khi viết cuốn sách về chiếc xe Lexus và cây Olive. Có lẽ Varanasi chỉ “phẳng” theo cái cách mà cả 2000 đẳng cấp khác nhau đều cúng tế, đều tắm và đều được đốt xác trên một dòng sông thiêng liêng – sông Hằng.