[ghi nhanh]Fan Page trên Facebook có phải chỉ cần nhiều fans là đủ?

SocialBaker vừa có bài viết khá hay mang tên “Response Rate: Does Size Of The Facebook Page Matter?” trong đó nêu lên một chỉ số là chỉ số Response Rate (RR).

The Response Rate is a Socialbakers metric that measures how much and how quickly Facebook Pages respond or react to wall posts from their Fans.

Lợi ích lõi của Social Media với Brand là khả năng tương tác hai chiều và trực tiếp giữa Brand – Consumer. Đương nhiên, khi fans post một cái gì đó lên mà được trả lời ngay + trả lời thỏa mãn thì đó là động lực lớn để fans có thể tương tác nhiều hơn với brand/fan page của brand. Thế nhưng, câu hỏi ở đây là khi lượng fans tăng lên, số lượng câu hỏi cũng nhiều lên thì fan page có kịp trả lời hết được không? Nói cách khác, fan page có số lượng fans ít có lợi thế hơn so với fan page có số lượng fans đông đối với chỉ số này?

Nghiên cứu của Social Barker với Coca Cola và Burger King cho thấy rằng mặc dù Coca Cola có số lượng fans đông gấp 10 lần số lượng fans của Burger King thì họ vẫn có chỉ số RR tốt hơn hẳn so với Burger King. Nghiên cứu này thực sự vẫn chưa đưa ra được thêm điều gì để học hỏi ngoài việc quảng bá cho tool để coi chỉ số RR của Social Baker vì không biết team để quản lý fan page của Coca Cola có đông gấp 10 lần team của Burger King hay không?

Tuy vậy, đây là một câu hỏi hay. Lợi thế và bất lợi khi fans tăng lên quá đông là gì? Social Baker cũng đưa ra thêm chỉ số Engagement Rate (ER) để đo đếm tất cả số lượng activity mà fans react với hành động của Admin Page. Tuy nhiên, cá nhân mình thấy rằng ở đây vẫn còn thiếu một chỉ số liên quan tới Sentiment. Respond đông mà toàn negative, ví dụ như vụ Party vừa rồi thì đấy chắc chắn cũng không phải là điều mà Brand muốn. Hy vọng trong năm nay hệ thống ORM của ePi sẽ giải quyết được điều này triệt để.

Fan Page is NOT a tribe

Fan pages can be a great promotional tool. They can increase loyalty and deepen engagement with fans. But they’re terrible at building relationships between fans. Fan pages encourage their audience to interact them, not with each other. Even those that can encourage their fans to interact with each other, struggle to develop these conversations into relationships.

(Src : 5 Social Approaches Misleadingly Called Communities)

Wired: You’ve said that a tribe doesn’t have to be encouraged to connect, they want to connect with each other. And that you as the person in the center aren’t required to do anything.

Seth Godin : That part’s not true. It requires you to do a great deal. But what you don’t need to do is sell people on the fact that they want to connect. That’s human nature. We want to connect with like-minded people. What you have to do that’s very difficult is create the platform –- whether it’s a cocktail party or a technology -– where people can get over social friction, where people can make connections that would ordinarily feel awkward. So why does TED as a conference work? It works because after traveling all that way and paying all that money, it’s expected that you will join the TED tribe. Whereas if the TED conference didn’t exist and you just called people on the list and said why don’t 20 of us get together for coffee, that would be a weird phone call to make…. That’s part of what it means to make a movement – do something difficult to overcome the social friction.

Wired: So it’s all about sensing a need and filling the need and encouraging the connection.

Seth Godin: The need is always there -– the need to connect, to matter. I think the need comes and then the issue comes, not the other way around…. And what leaders do, whether they’re leading a small Christian evangelical community or trying to organize India to overthrow British imperialism … is they find a particular subset of people who also share a goal … and bring in the right people to support it. If it hadn’t been Al Gore, it could have been William F.Buckley who had led the fight against global warming and it could have been completely filled with people from the editorial pages of the Wall Street Journal…. It just happened that the leader who stood up and did it had a natural constituency, a constituency that was looking for the cause and the connection and the movement, and he was the man to do it…. My point is that people don’t become leaders because they have charisma; people get charisma because they’re leaders.

(Src : TED Interview: Tribes Author Says People, Not Ads, Build Social Networks)

Better solution is Facebook Group, imo. Launch (Vietnam), (FF) Foundation of Fun … are good examples.

(Update 20 Feb : Your Twitter Followers aren’t a community).

Top 10 blog công nghệ/PR+Marketing được bạn bè ưa chuộng nhất (2011)

Hôm trước có làm cái Poll (vui vẻ) trên Facebook để hỏi mọi người xem blog tiếng Anh hay đọc về công nghệ/PR+Markerting là gì, cũng thu được tới gần 300 votes và kết quả ra như sau (click để phóng to nhé) :

Top 3 có thể thấy rõ là các blog với mục đích chung, nhiều tác giả viết như Mashable, TechCrunch, RWW vẫn được ưa thích nhất. Cái này có lẽ là do kiến thức đa dạng, cập nhật, nhiều chiều. Blog của Seth Godin và Brian Solis (PR 2.0) là 2/10 blog do một tác giả viết về marketing nhưng vẫn được ưa chuộng. Điều này thì khỏi phải bàn bởi suy nghĩ của hai bác này quá dữ, có thể thay đổi được tới cả ngành Online Marketing/PR.

Bạn nào chưa vote thì vào vote tiếp hộ mình, bạn nào vote rồi có thể vào xem xem ngoài 10 blog này ra thì danh sách các blog được ưa chuộng còn bao gồm những blog nào tại đây.

Sharing is more than caring…

Sáng nay mới có thời gian ngồi đọc bài “Thị trường Social Bookmark tại VN” của bạn @khaivq và thảo luận trên Link Hay. Bài viết có phần thống kê khá chi tiết về nút nhúng chia sẻ trên các website Việt Nam hiện nay và có lẽ là thống kê đầy đủ nhất từ trước tới nay về phần này mà mình được thấy. Nghĩ tác giả cũng không cần tặng hoa hay ném trứng thối mà cần thảo luận nhiều hơn nên viết blog để gạch ra mấy ý chính mình muốn phản hồi :

  • Có lẽ nên sử dụng Social News để thay thế cho Social Bookmarking, như vậy đúng với bản chất của các site hiện tại hơn. Mô hình Bookmark của Delicious có lẽ tới nay đã không còn phù hợp. Không chỉ đơn giản là chuyện socialize chức năng bookmark cho cá nhân mình, Social News giúp việc crowd-sourcing để tìm ra tin tức nổi bật nhất tốt hơn. Digg, Reddit, Mixx hay Linkhay đã “tiến hóa” từ Social Bookmarking Sites sang Social News. Facebook, Twitter, Zing Me xếp vào Social Bookmarking hay Social News cũng đều hơi cưỡng ép.
  • Đã không còn là chuyện bookmark cho bản thân mình mà là chuyện crowd-source thì yếu tố cộng đồng rất quan trọng và sự gắn kết trong cộng đồng lại càng quan trọng. Đính lại cái hình về Reach và Affinity ở đây. Reach cao mà Affinity kém thì cũng không ổn, nhất là để làm crowd-source. Yếu tố cộng đồng và văn hóa cộng đồng cũng giúp giải thích việc tại sao có những link share trên cộng đồng này thì được tặng hoa, share trên cộng đồng kia thì bị ném đá hoặc không được ủng hộ (như việc bạn @vietbio có than thở tại LinkHay).

Social Influence: reach vs affinity

(pix courtesy of Stefano Maggi – Under Creative Commons License)

  • Nhắc tới Làn sóng ngầm, nhớ tới Groundswell của Forrester. Càng trèo lên cao trong thang này, mức độ tương tác càng phức tạp. Đối với content ví dụ như của Baomoi.com thì đa phần vẫn là Spectator (chỉ xem, không làm gì hoặc thì thầm với nhau offline, chat, email), tiếp tới là Like (~ Spectator – tránh nghĩ rằng độc giả lười không ấn nút Like mà có thể do content không hay sao bắt người ta Like?), tiếp tới là comment hoặc share nhưng có comment riêng (~Critics + Conversationalists), cuối cùng mới là Creators – viết bài blog để đưa ý kiến của mình phản hồi lại bài báo. Chuyện đương nhiên cái gì dễ thì ai cũng làm, views là dễ nhất, like là dễ nhì, comment đã bắt đầu thấy khó rồi, share thì phải bài nào hay lắm mới share và nói lại ý trên là cũng phải hợp cộng đồng mới share, ko thì bài chả nổi lên hot, share mất công (<> bookmark là lưu lại cho bản thân).

  • So sánh chung site nào hơn site nào là tương đối khó. So sánh xem với góc nhìn của người làm marketing cho content thì site nào tốt hơn site nào sẽ dễ hơn và có thể cân đong đo đếm được hơn (tuy vậy cũng tùy xem chiến lược content của người đó ra sao, quan hệ – affinity của người đó trong cộng đồng thế nào …) Vậy nên mới có rất nhiều người nói “Content is King, Context is God” là vậy. Tuy nhiên cũng nên để ý cái thang một chút. FB nó hơn các bạn khác như Zing Me/Twitter/G+ … vì nó có cả Like lẫn Share, nôm na là nó phủ được hai bậc thang, trong khi các bạn chỉ có một bậc (để có bậc Thích/Fav ~ Like thì mình phải vào tận site nhà các bạn chứ không đính lên site nhà mình được)
  • Hồi xưa mọi người cũng hay nói, Sharing is Caring. Mình cho rằng Sharing mà giật lại title hay ho (thường hay gặp trên LinkHay) hoặc đưa ý kiến cá nhân của mình (thường hay gặp trên Twitter/Facebook) cũng là Creating, là sáng tạo thêm và mấp mé ở mức Creator rồi.
  • Vậy, kết luận nếu với góc nhìn của một Marketer, mình đương nhiên sẽ cố gắng đặt hết tất cả các nút share lên site của mình nhưng cũng quan tâm tới việc content đó hợp với site nào mà cụ thể văn hóa cộng đồng ở site đó như thế nào, làm sao để tăng affinity trong cộng đồng (còn tăng reach thì đương nhiên ai cũng cố làm rồi, nhưng reach theo kiểu tôi có Fan Page 100K thành viên nhưng tôi post cái gì lên cũng chẳng có ai phản hồi cả thì tăng cũng không được bao nhiêu hiệu quả). Đương nhiên, mình cũng chấp nhận rằng share, comment là những tương tác ở mức cao nên nếu content của mình không tốt thì dù có nhúng cả 20 nút share của các site khác nhau cũng không ăn thua gì. Mình cũng sẽ có chiến lược riêng cho từng site khác nhau, không lẫn lộn giữa Social News (giống LinkHay, tin hot thì gần như toàn thiên hạ đều nhìn thấy) và SNS (tin mình post chỉ bạn mình/fan mình thấy) và cố gắng sao nếu content được share trên cả Social News lẫn SNS thì là mừng nhất.

 

6 quy tắc để nhân cách hóa (humanize) thương hiệu của bạn

Có khá nhiều ý kiến cho rằng mục tiêu tấn công của Google+ thực sự là Twitter chứ không phải là Facebook để qua đó chiếm lấy vị trí (ít nhất là) thứ 2 trong cuộc chiến về mạng xã hội. Còn hơi sớm để nói về Google+ bởi mạng xã hội này ít ra cũng vừa mới ra đời, đạt được 10 triệu người dùng sau 2 tuần ra mắt và vẫn còn rất nhiều vũ khí bí mật chưa ra mắt (ví dụ profile dành riêng cho doanh nghiệp…)

Trong khi đó, Twitter cũng đã ra đời từ năm 2006 (tới nay được 5 năm) và vẫn chưa rõ mình sẽ kiếm tiền theo cách nào ngoài việc quảng cáo qua những câu Twit (người dùng tự quảng cáo hoặc đặt qua dạng sponsor). Lật ngược lại câu hỏi, Twitter cung cấp khả năng đó nhưng liệu nó có thật sự có ích với người quản lý thương hiệu hay không, Douglas O’Donnell đã có một bài blog mang tên “Twitter Works, but Is It Working for Your Brand?” Điểm quan trọng nhất trong bài viết này có lẽ là 6 quy tắc để nhân cách hóa thương hiệu, những quy tắc hoàn toàn có thể áp dụng được cho bất cứ mạng xã hội nói chung nào chứ không phải chỉ riêng Twitter.

6 Rules of Humanizing Your Brand

  1. Be human and humble (this should come naturally).
  2. Follow the 80% (value add content)/20% (marketing) rule.
  3. Establish Twitter-specific objectives, strategy, and measurement, and optimize.
  4. Seek out your advocates and follow them first; don’t make them find you.
  5. Interact with customers, like you would with a friend in a coffee shop.
  6. Be relevant to their interests, be available to address their needs, and embrace negative comments as opportunities.

(Bonus rule: Fire your legal and editorial departments–unless they are solution biased.)

Cá nhân mình cũng áp dụng các quy tắc này (trừ quy tắc số 3 chưa có được một chiến lược thực sự rõ ràng) và thấy rằng rõ ràng người sử dụng luôn muốn nói chuyện với một con người – chứ không phải một cái máy.

Douglas O’Donnell cũng chỉ ra điểm khác biệt cơ bản giữa Twitter và Facebook, một điểm khác biệt chắc chắn khiến người quản trị thương hiệu rất nhọc. Đó là việc Twitter tập trung vào các cuộc đối thoại, càng tức thời bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Khách hàng hỏi, doanh nghiệp trả lời nhanh, khách hàng sướng. Khách hàng không hỏi nhưng doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng thông tin nhanh thì khách hàng cũng sướng. Một điều thú vị khác mà Douglas O’Donnell cũng mang lại là sự so sánh giữa Community Manager của Twitter và Facebook :

A community manager on Facebook will have a planned strategy, a content calendar, and some guidance on occasional real-time interactions. A community manager on Twitter should be on call, like a doctor.

Ngoài quy tắc số 3 thì có lẽ quy tắc số 6 (Be relevant to their interests, be available to address their needs, and embrace negative comments as opportunities.) cũng là một trong những quy tắc khó và gây cản trở lớn trong quá trình “nhân cách hóa” thương hiệu. Để làm tốt quy tắc này, người quản trị thương hiệu cần bỏ thời gian ra nghiên cứu cộng đồng những người follow mình, qua đó áp dụng quy tắc số 2, số 5 (đương nhiên là cả số 1) cho tốt. Không phải ai cũng có thời gian để làm việc này tốt bởi cũng như bạn bè, bạn không thể hiểu họ qua ngày một ngày hai mà cần cả quá trình lâu dài. Thêm nữa, hiểu được 1-2 người bạn thì dễ chứ hiểu được 1000-2000 rồi 1 triệu – 2 triệu người thì quả là điều không thể.

Twitter và Facebook đã tạo ra những ranh giới tương đối rõ rệt, vậy thì khi mà Google Plus sử dụng cái hay của cả hai để tạo ra sản phẩm cho riêng mình thì thực sự là … khó nói. Khó nói bởi nhiều khi nhiều cái hay quá đứng cùng với nhau chưa chắc đã hay. Trong lúc chờ đợi xem Google Plus tiếp tục phát triển ra sao, có lẽ hãy cứ làm tốt với các account liên quan tới thương hiệu của mình trên Facebook và Twitter đã.

Quick question about KFC Vietnam – Facebook Campaign

(click to enlarge)

Last month, KFC Vietnam organized a mini-contest with one question a day. They also launched new website around 26May2011. At the beginning of May, they only had around 9000 fans and after one month, KFC Vietnam has around 19.000 fans now (nice performance!) My 2-cents question here is Why they still had many new fans (with bigger growth rate) after the last day of their contest (31May)? Which is the main factor of their success here (Website, viral, spam, forum, social ads, banner ads…?) Want to spend time to look into it closer!

5 câu hỏi khi làm Facebook Marketing của Dan Zarrella

Dan Zarrella trong bài viết của mình vào tháng 01/2011 đã đưa ra năm câu hỏi rất chính xác cho những người muốn làm Marketing trên Facebook thông qua content. Để xem chi tiết về 5 câu hỏi này, xin được đọc blog của Dan Zarrella. Tóm gọn lại, bạn cần quan tâm tới các vấn đề sau khi post content lên Facebook :

  1. Post vào giờ nào trong ngày?
  2. Post vào ngày nào trong tuần?
  3. Post content loại nào?
  4. Post những từ ngữ nào là thích hợp, những từ ngữ nào là không thích hợp?
  5. Tần suất post bao nhiêu là phù hợp?

Cá nhân mình cho rằng đây là những câu hỏi đúng và không chỉ áp dụng đối với Facebook mà có thể áp dụng đối với bất kỳ mạng xã hội nào như Twitter, ZingMe hay Linkhay. Quay lại Facebook, sáng nay cũng mới đọc được một bài viết trên trang AllFacebook, trong đó có đoạn :

For pages, people are considered active users if they have visited the page; viewed a post by the page; or interacted with a post.

Nếu là quản lý của một Pages trên Facebook, chắc hẳn một trong những công cụ bạn phải quan sát hàng ngày là phần Insights (cũng giống như Webmaster phải quan sát Google!Analytics hoặc một công cụ tương tự). Tuy nhiên, phần Insights trên Facebook lại không thể trả lời cho bạn những câu hỏi mà Dan Zarrella đã hỏi (chính xác hơn là các bạn Facebook chưa “thèm” trả lời mấy câu hỏi đó). Trong công cụ Fan Page Monitoring Tools của mình, mình cũng chỉ trả lời được câu hỏi số 1 và số 2 theo một cách tương đối khiên cưỡng vì chỉ monitor được xem giờ nào Fan Post đạt cao nhất. Tuy vậy, Fan Post là mức cao nhất của sự tương tác (> Comment > Like > View) nên cũng không thể chỉ dựa vào Fan Post để đưa ra kết luận. Ví dụ, đối với 3 trang đang có mức tương tác cao hiện tại trên Facebook thì Fan Post tính theo giờ của các trang như sau :

Fan Post - Cu Trong Xoay - Facebook(Page của Cù Trọng Xoay)

Fan Post - TCCL - Facebook

(Page của TCCL)

Fan Post - Doraemon Che(Page của Doraemon chế)

Nếu chỉ nhìn vào 3 biểu đồ trên để nói rằng Fan Active nhất vào khoảng 9h tối thì chưa thật chính xác bởi active còn mang nghĩa là comment, like và thậm chí là view nhưng nếu kết hợp thêm với các công cụ bên ngoài như Google!Analytics hoặc kết hợp với Insights của Facebook, mình có thể chọn giờ tốt hơn để tiếp cận với các Fan. Cũng như vậy, tần suất và loại content để post cũng là một yếu tố quan trọng mà những người quản lý Fan Page hoặc cộng đồng nói chung cần quan tâm bởi nói quá nhiều thì có khi chẳng được ưa, mà nói quá ít thì lại bị trôi tuột đi mất. Cuối cùng, điều khó nhất với cá nhân mình là chọn lựa từ ngữ cho phù hợp bởi cũng chưa thật sự biết chính xác từ ngữ nên chọn lựa như thế nào. Mới đây cũng đã thử kết nối phần tự động tách từ khóa của Baomoi vào Monitoring Tool của mình để track thử xem các Admin của Page cũng như bản thân mình hay sử dụng từ ngữ gì nhất. Hy vọng sau một thời gian sẽ rút ra được kinh nghiệm tốt hơn. Ví dụ, hãy xem Fan Page của Gào nói gì nhiều mà thuyết phục được nhiều Fan tuổi teen ấn Like thế?

Kw - Gao - Facebook

Làm Social Media Marketing theo cách của hãng hàng không giá rẻ AirAsia

Định viết về AirAsia từ khi đi Ấn Độ về nhưng rồi lười biếng nên cứ chần chừ mãi chưa viết. Hôm nay, xem được cái Infographic thấy AirAsia đứng thứ ba trong số các hãng hàng không châu Á “nói” nhiều nhất trên Twitter (trong tháng 3/2011) nên mới hạ quyết tâm viết một bài để tổng hợp lại những gì AirAsia đã làm và đã được lợi trong thời gian qua với Social Media.

Trước hết phải nói rằng mình rất happy với AirAsia qua chuyến đi vừa rồi khi bay từ Malaysia sang Ấn Độ trên chuyến bay dài hơn 5 tiếng ngồi Boeing thoải mái (hơn JetStar của Việt Nam) mà chỉ mất có khoảng … 50 USD cho hai chiều. Khó có thể đòi hỏi gì hơn với một chặng đường dài và một số tiền bỏ ra nhỏ như thế, vượt trên cả mức mình mong đợi. Lần mò tìm hiểu về AirAsia, tìm được một slide khá hay tại đây. Trong slide đó, nói khá rõ về Value Proposition, Competitive Advantages và Marketing Strategies của AirAsia. Để đọc kỹ thì bạn có thể (và nên đọc toàn bộ slide đó vì có một phần chú trọng tới việc sử dụng công nghệ để giảm chi phí), còn lại mình chép nhặt 3 phần nói trên ra đây để 8 tiếp (click vào hình để phóng to) :

 

AirAsia - Value Proposition
AirAsia – Value Proposition
AirAsia - Competitive Advantages
AirAsia – Competitive Advantages
AirAsia - Marketing Strategies
AirAsia – Marketing Strategies

Fan Page trên Facebook của AirAsia được tạo vào tháng 4/2009 và đạt 100K fans vào tháng 12 cùng năm khi bắt đầu chạy chiến dịch giảm giá 20%. Sau đó 3 tháng, Fan Page này đạt 205.280 fans và hiện tại theo SocialBakers đã đạt mức gần 1 triệu fans! Kathleen Tan, linh hồn của các chiến dịch này đã nhận xét rất đúng khi cho rằng đây thực sự là cách tiếp cận tốt và có thể dễ dàng phá vỡ rào cản của các phương pháp marketing truyền thống.

“Lifestyle changes on the digital front as news and information are now made available real-time via the social media platform. This has prompted AirAsia to engage in social media to connect with our guests, and the response has proven to be encouraging through AirAsia’s Facebook Fan page.”

We interact, listen, have some fun, engage and action if we encounter complaints and not hide. Transparency is crucial. Of course we are also learning lessons on how to improve.”

“You can say that AirAsia’s Facebook Fan Page has become a one-stop service centre for guests travel needs…”

Hôm trước trong 5Desire nhớ rằng có bạn bên Thái Hà Book hỏi rằng liệu nhân lực ít có làm Social Media được không? Bé tí như ePi thì không vấn đề gì nhưng ngay cả như AirAsia lúc khởi đầu cũng chỉ có duy nhất 01 nhân viên chuyên trách về mảng này. Sau khi Fan Page trên Facebook bùng nổ và đạt tới con số 300K, AirAsia đã có 5 nhân viên chuyên trách 24/7 và sau đó mở rộng lên đến 7 người. Ms Tan cũng chia sẻ rằng Facebook là miễn phí và thay vì sử dụng một chiến dịch dùng quảng cáo trên báo giấy tốn 2 triệu RM (~ 660.000 USD), họ đã thử thực hiện chiến dịch này trên Facebook. Với 3-4 ngày khởi động bằng các thông báo, trong ngày chính thức chạy chiến dịch thì server book vé đã … sập luôn và kết quả AirAsia có được gần 900.000 lượt book vé thành công sau hai ngày chạy chiến dịch. Một điều mà Ms Tan chia sẻ (mà có lẽ cũng rất thực tế) là việc thông báo trên Fan Page còn tốt hơn quảng cáo trên báo ở chỗ các Fan trên Facebook đã có hiểu biết sẵn về chiến dịch nên không gọi điện tới Call Center chỉ để hỏi thông tin (và không mua vé) khiến Call Center bị lụt nhưng hiệu suất lại không cao. Nhờ đó, Fan Page trên Facebook và Twitter còn giúp cho AirAsia giảm tải công việc của Call Center. Sau trải nghiệm này, Marketing Strategy của AirAsia này ngày càng chuyển dịch nhiều về Online và Social Media hơn.

Không chỉ có Facebook và Twitter, Air Asia cũng đã mở rộng tới cả các mạng xã hội địa phương như Renren hay Sina (bao giờ tới Zing, Go và BạnBè nhỉ?) Đồng thời, họ cũng mở các Fan Page trên Facebook cho từng quốc gia một (tuy nhiên hình như chưa có ở Việt Nam. Lần trước khi delay một ngày chuyến bay của mình, ngoài gửi thư thì Call Center tại Indonesia cũng đã gọi điện tận nơi để thông báo lại cho mình biết). Ngoài ra, FlickrYoutube Channel cũng là một phần trong chiến lược sử dụng Social Media của AirAsia.

Để đạt được điều này, AirAsia có một sự thống nhất toàn diện từ lãnh đạo cấp cao và đây thực sự là một nhân tốt cực kỳ quan trọng trong việc triển khai Social Media thành công tại doanh nghiệp.

“This is a movement not just at the corporate level but generally our staff also embrace it and use as tools to communicate and share experiences. It is driven at top level as most of our CEOs and senior management tweet, including me.” – Ms Tan

Không hẳn là AirAsia không có những lúc chưa thực sự sử dụng hiệu quả Social Media, tuy vậy khi có sự nhất quán từ trên xuống dưới, có đội ngũ 24×7 chuyên biệt để ngụp lặn trên môi trường Social Media, AirAsia thực sự đang chuyển hóa cách làm PR với việc sử dụng môi trường online, nâng cao khả năng hỗ trợ và giao tiếp khách hàng, cung cấp cho khách hàng một touch-point cởi mở và dám làm dám nhận, tạo điều kiện để brand va đập và tiến sát với trải nghiệm thực của khách hàng. Đúng như lời Ms Tan nhấn mạnh “social media is a commitment – it isn’t just about learning about theories and technologies, it’s about immersing yourself in social media as well“.

Nhìn lại hàng không Việt Nam, có một chút thoáng buồn. Nếu bạn tìm thấy Fan Page hay active Twitter Account của Jetstar (hay một account khác liên quan tới Social Media ở VN), xin hãy chỉ cho mình. Cá nhân mình thì có tìm thấy một Fan Page của Vietnam Airlines trên Facebook với gần 15K fans nhưng có vẻ hoạt động rất cầm chừng kể từ khi Facebook bị chặn không chính thức. Hy vọng rằng qua bài học của AirAsia, các hãng hàng không Việt Nam sẽ có thể có cách làm tốt hơn với môi trường online. Đương nhiên, nếu họ muốn và cảm thấy cần làm!

Nghĩ về bong bóng mạng xã hội và sự tồn tại vững chắc của forum tại Việt Nam

Viết bài này bắt đầu từ sau khi đọc phần thảo luận này trên LinkHay và bài gốc tại BusinessWeek. Để nói về bong bóng mạng xã hội, lại phải đọc lại bong bóng dot-com trước khi viết tiếp bất cứ thứ gì. Wikipedia nói rằng :

Venture capitalists saw record-setting growth as dot-com companies experienced meteoric rises in their stock prices and therefore moved faster and with less caution than usual, choosing to mitigate the risk by starting many contenders and letting the market decide which would succeed. The low interest rates in 1998–99 helped increase the start-up capital amounts. Although a number of these new entrepreneurs had realistic plans and administrative ability, many more of them lacked these characteristics but were able to sell their ideas to investors because of the novelty of the dot-com concept.

The dot-com model was inherently flawed: a vast number of companies all had the same business plan of monopolizing their respective sectors through network effects, and it was clear that even if the plan were sound, there could only be one network-effects winner in each sector, and therefore that most companies with this business plan would fail. In fact, many sectors could not support even one company powered entirely by network effects.

According to dot-com theory, an Internet company’s survival depended on expanding its customer base as rapidly as possible, even if it produced large annual losses. For instance, Google and Amazon did not see any profit in their first years.

Public awareness campaigns were one of the ways in which dot-coms sought to expand their customer bases. These included television ads, print ads, and targeting of professional sporting events. Many dot-coms named themselves with onomatopoeic nonsense words that they hoped would be memorable and not easily confused with a competitor.

More in-depth analysis shows that 50% of the dot-coms companies survived through 2004. With this, it is safe to assume that the assets lost from the Stock Market do not directly link to the closing of firms. More importantly, however, it can be concluded that even companies who were categorized as the “small players” were adequate enough to endure the destruction of the financial market during 2000-2002. Additionally, retail investors who felt burned by the burst transitioned their investment portfolios to more cautious positions.

Đọc nhanh có thể thấy rằng bong bóng dot-com tại Mỹ đã xảy ra do việc đổ vốn một cách dễ dãi vào nhiều sản phẩm có mô hình giống nhau, đồng thời các sản phẩm này đốt tiền khá nhanh và không có nhiều sự lựa chọn trong việc tiếp cận khách hàng (dẫn tới việc bỏ nhiều tiền cho quảng cáo offline). Bong bóng này vỡ nhưng big-player có giá trị vẫn tồn tại được, và vỡ do rất nhiều nguyên nhân khác nhau (xin đọc kỹ bài trên Wikipedia – các nguyên nhân liên quan tới chính sách, thị trường…) Có thể nói, vỡ là vỡ các player vốn đã mong manh như bong bóng, chỉ cần thị trường hắt hơi là xẹp.

————————————————————

Bong bóng đang trở lại? Với một dạng thức khác tinh vi hơn? Điểm đầu tiên để nói là việc đổ vốn một cách dễ dãi. Ở Mỹ và ở Việt Nam đều vậy. Không muốn nói và không muốn nhắc tới những sản phẩm đã chết, âm thầm hoặc công khai chết nhưng không ít các sản phẩm (ở tại Việt Nam) được xây dựng bởi những công ty lớn và những con người rất chuyên nghiệp. Nhưng rồi ngỏm vì đổ vốn dễ dãi quá. Sự dễ dãi này có căn cơ từ một điều rất cũ, đã từng được nói rất nhiều trong dot-com bubble : mô hình kinh doanh dựa vào việc phát triển bề rộng, có càng nhiều người sử dụng càng nhanh càng tốt trong khi còn loay hoay trong việc kiếm tiền trên những người sử dụng này như thế nào. Hammerbacher trong bài báo của BusinessWeek đã phải thốt lên “That’s suck” là vì như vậy. Là một trong số 100 nhân viên đầu tiên của Facebook, Hammerbacher có nhiệm vụ nghiên cứu hành vi của người sử dụng Facebook và để cuối cùng để Facebook lại sử dụng một mô hình rất cũ để kiếm tiền : quảng cáo. Dù hình thức quảng cáo lần này có hướng đối tượng hơn, thì đó vẫn là bài cũ : nhiều users, nhiều traffic và hy vọng là CTR sẽ cao.

————————————————————

Wave thứ nhất là để giải quyết vấn đề về thông tin, dạng know-how. Wave thứ hai cũng là để giải quyết vấn đề về thông tin, dạng social (copy của bạn Xoài). Wave thứ ba là gì? Bạn Xoài và nhiều người khác vẫn đang đi tìm. Trong khi bạn Xoài và người khác đi tìm, một số bạn guru khác ở Mỹ như Hammerbacher bỏ ngang đi làm việc khác có ích hơn cho đời thì vẫn có nhiều người khác kiếm được tiền. Tỷ như Groupon kiếm được một đống tiền. Tỷ như Color kiếm được một đống tiền đầu tư. Tỷ như TechCrunch kiếm được một đống tiền từ AOL nhờ việc viết về một đống các bạn khác kiếm tiền như thế nào.

Google và Facebook đại diện cho hai làn sóng thông tin ập tới nhanh, mạnh và thừa mứa với người sử dụng trong hai thập kỷ gần đây. Thông tin đến từ SE giờ lại đến tiếp từ mạng xã hội (mà nói là mạng xã hội chung chung quá, đến từ những kết nối trên mạng xã hội). Quảng cáo tới từ SE và giờ quảng cáo cũng lại đến từ mạng xã hội. Hai làn sóng này đều điểm chung là khó lòng bắt người sử dụng cuối cùng có thể trả tiền được. Do vậy, quảng cáo vẫn là nguồn thu chính không thể phủ nhận. Thế nhưng, để có được tiền từ quảng cáo thì bạn phải đứng được trên đầu sóng. Bí quyết kiếm tiền từ trước tới nay thực ra rất đơn giản : mang lại lợi ích cho người trả tiền và làm người ta hài lòng với lợi ích đấy. Liệu có làm được không? Liệu có thuyết phục được các hãng lớn trả tiền quảng cáo cho bạn không? Rồi lại lao vào vòng xoáy luẩn quẩn phải có thật nhiều user, phải có thật nhiều traffic, trong khi chưa chắc traffic đó đã đủ nuôi nổi tiền duy trì server?

————————————————————

Forum ở Việt Nam vẫn sống tốt, sống dai. Tại sao lại thế? Tại vì bị cấm Facebook? Còn một đống các mạng xã hội khác cơ mà? Forum khác với mạng xã hội có lẽ ở chỗ bất cứ ai cũng có thể xuất hiện ở trên đó một cách vô danh và bất cứ ai cũng có thể xây dựng cho mình một hình ảnh mình muốn trước cả cộng đồng nếu đủ giỏi. Forum cũng thân thiện với Search Engine và có thể search được, không như Facebook. Forum cũng không ấn vào đầu bạn các thông tin kiểu như Anh A ngáp, chị B chuyển sang quan hệ phức tạp với anh C, anh C trồng được 3 củ su hào ở vườn (ảo) của anh ấy … Vô hình trung, khi thông tin (người sử dụng) không cần thiết trên mạng xã hội cần phải lọc bớt, Forum lại là chỗ tốt bởi vì nó đã được lọc sẵn các thông tin này. Forum cũng là chỗ tốt cho người Việt Nam khi muốn thảo luận nhưng lại không phải lúc nào cũng muốn lộ mặt.

Kết nối là cần thiết. Không cần phải có Facebook thì mới có kết nối, nhưng có Facebook thì mình kết nối được với nhiều người hơn. Kết nối với nhiều người hơn thì mình phải duy trì kết nối nhiều hơn, hoặc mình sẽ mất kết nối đó. Vậy nên mới thi thoảng lại thấy bạn bè quyết tâm xóa bớt kết nối đi, từ 2000 cố xuống 1000, rồi 1000 lại cố xuống 500 hay thậm chí là 100… Ống nước không có nước thì sẽ han rỉ thôi. Sản phẩm không mang lại giá trị thật cho người sử dụng mà lại làm người sử dụng phát mệt thì chắc rồi cũng sẽ han rỉ.

————————————————————

Không dám bàn về chuyện bong bóng sẽ diễn ra như thế nào, cũng không muốn bàn vì mình cũng là người trong ngành. Thế nhưng, nếu bạn không to, không khỏe bằng Facebook thì cũng nên xem lại các dấu hiệu đã từng có khi bong bóng dot-com xảy ra và tự so sánh tình trạng hiện tại của mình với các dấu hiệu đó. Rồi thì hãy chuẩn bị bút viết để điền vào tấm business card trống mà CJ Chilvers đã gợi ý. Khi chẳng may bong bóng có vỡ, lúc ấy đỡ phải in lại card-visit và chức danh của mình  :mrgreen: . Dù sao thì phát ra một tấm card tự tay viết cũng khó hơn là ấn vào nút Add friend chứ. Và nếu không thích phát card, bạn có thể đưa biz card trắng trơn ra và bảo, haiz, tôi để quên card ở nhà rồi. Như thế có phải là giống hơn với việc ngụp lặn vô danh trên Forum hay không?

Nhắm mắt lại mình chọn Uyên Linh mà mở mắt ra thì Mai Hương là Idol chắc!

Rảnh rang chả biết tám về chuyện gì, thôi thì tám về Vietnam Idol cho nó thời thượng, lại còn có thể câu view của bà con được :mrgreen: Cho dù có nhiều thứ lùm xùm nằm ngoài (hoặc trong kịch bản của nhà sản xuất mà mình không biết) thì Vietnam Idol năm nay chắc thành công hơn là lần trước, ít ra là theo con mắt chủ quan của mình. Hai bạn vào đến vòng chung kết là xứng đáng, tuy nhiên mình thì thích một cuộc đối đầu tay ba để chọn ra một hơn, như vậy người thua cũng có tận hai người thua, thua có bạn có bè cho nó an ủi. Tuy nhiên cũng khó chọn ra người thứ 3 cho cân, nếu để mình chọn thì mình chọn Lân Nhã vào vị trí số 3, một ngưởi đàn ông cho ra đàn ông để đọ với hai em gái.

Đêm chung kết là một đêm vui vẻ. Vui vẻ theo đúng cách mà tất cả mọi người đều vui vẻ, từ giám khảo, thí sinh tới khán giả. Tuy nhiên mình thấy bài hát vòng 1 – hát tiếng Việt là hay nhất. Vòng 2 tiếng Anh không gây ấn tượng với cá nhân mình (đặc biệt không hiểu sao chị Siu lại khen bộ quần áo của Mai Hương, mình thấy bộ đó Mai Hương mặc cứ lùng ba lùng bùng, bụng to như cái trống :-? phải chăng do góc nhìn khác nhau :của mình – camera từ trên cao và góc nhìn của chị Siu – nhìn thẳng). Uyên Linh hát tốt, cảm nhạc tốt và mình cho rằng lớp “già” như mình sẽ thích Uyên Linh hơn Mai Hương. Mai Hương ngược lại giọng hát đầy sức mạnh, tươi trẻ và cần phải có thời gian nhiều hơn để cảm nhạc thông qua trải nghiệm sống. Mọi người có vẻ khen winning song nhưng mình nghĩ anh Huy Tuấn quả thật cũng bị sức ép khi sáng tác bài này, đâm ra nó không được đặc sắc nếu không nói là trơn tru tới mức chả để lại ấn tượng gì cả. Hai cách phối cho hai thí sinh cũng không khác nhau là nhiều, thôi cứ nói tại vội quá nên làm chưa kỹ.

Để làm được Idol, không chỉ cần giọng hát mà còn cần cả truyền thông đứng sau lưng. Đây cũng là một case tốt cho thấy Social Media bắt đầu chập chững phối hợp với traditional media. BGK của Vietnam Idol, ví dụ chị Diễm Quỳnh đã từng nhắc tới những khái niệm như fan page, mạng xã hội, comment … khi bình luận và rõ ràng cũng có một vài blogger (You-Know-Who) theo đuổi Vietnam Idol một cách “chuyên nghiệp”. Ngoài truyền hình, báo chí cũng có cái để nói khá nhiều về Idol và hãy xem họ nói về ai nhiều nhất? (click để phóng to hình nhé)

Vietnam Idol 2010 Infographic

Uyên Linh được nói tới nhiều nhất trên mặt báo (ở các vị trí nhập nhằng giữa advertorial và editorial, giữa paid-news và bài báo khách quan). Nếu không phải đây là một kịch bản hoàn hảo đã được dựng trước bởi các nhà tài trợ thì mình có thể giải thích theo một cách logic hơn là các nhà báo cũng đã ở độ tuổi “già” như mình, đương nhiên họ sẽ thích em Uyên Linh hơn. Sau Uyên Linh không phải Mai Hương mà là Lều Phương AnhĐăng Khoa với scandal của mình. Chị Siu được nhắc tới nhiều hơn anh Quốc Trung (mình thích nghe chị Siu hát và thích nghe nhạc anh Quốc Trung luôn nhưng có lẽ mình thích anh Quốc Trung nhận xét hơn chị Siu hơn trong kỳ Vietnam Idol này).

Coi thử cái tag cloud về Vietnam Idol của Baomoi xem sao! Quả thật Sao Mai Điểm Hẹn kỳ này có vẻ yếu thế so với Vietnam Idol về mặt truyền thông quá nhiều. Scandal “bật BGK” của một vài thí sinh và việc anh Tuấn Khanh tự dưng bắt thí sinh đi xin lỗi khán giá có lẽ chưa đủ để độc giả và thính giả chú ý (cá nhân mình ủng hộ việc bật BGK nếu thí sinh có đủ khả năng và lý lẽ để làm điều đó, nếu không thì đừng làm. Thí sinh không phải đi học tiểu học hay mẫu giáo mà đều là người trưởng thành rồi, tại sao có ý kiến đúng lại không được nói, không dám nói và không dám chịu trách nhiệm?) Nhìn thấy gì nào? Ngoài tên ra thì còn hai từ khóa mình quan tâm là Youtube và Facebook nằm trong tag cloud này. Mình rất ủng hộ việc dùng Youtube Channel để ghi lại phần hát của thí sinh sau buổi diễn. Có content tốt thì phải biết lưu trữ và phát tán content đó chứ? Fan Page chính thức của Vietnam Idol cũng thu hút được tương đối fans (Cho tới thời điểm này là hơn 39000 fans). Thống kê sơ bộ từ tool của mình thì thấy đã có hơn 3200 message của Fans post lên Page này và cũng có gần 500 message nói về Uyên Linh (ko biết nói tốt hay nói xấu), gần 400 message nói về Mai Hương (cũng không biết tốt hay xấu).

Rất tiếc em Mai Hương đã không có một Fan Page chính thức ngay từ đầu (cho tới giờ có khoảng 4 page về Mai Hương cùng hoạt động) và lượng fans của em tương đối tản mát. Trong khi đó, Uyên Linh có một Fan Page tập trung và có growth rate tương đối tốt.

Như vậy, mọi chỉ số về media đều đang nghiêng về phía Uyên Linh. BGK có lẽ cũng có một chút nghiêng về Uyên Linh (mình tách BGK thành anh Quốc Trung và chị Siu cho nó công bằng còn anh Dũng Khùng và chị Diễm Quỳnh thì vừa làm BGK vừa làm nhà sản xuất nên có lẽ kể vào cũng hơi unfair). Lợi thế về hát tiếng Anh để đi tiếp trong Asian Idol thì Uyên Linh cũng có nốt. Cá nhân mình có lẽ vẫn muốn em Mai Hương làm Idol hơn bởi như cái title mà mình đã viết, mở mắt ra thì Mai Hương có nhiều hơn Uyên Linh, thế nhưng đến lúc này thì chỉ còn biết chúc may mắn cho em Mai Hương và hy vọng chót cho em là giới trẻ ủng hộ em sẽ nhắn tin nhiều hơn so với giới “già” như mình thích Uyên Linh :mrgreen: