Giá trị của user thay đổi khi môi trường truyền thông thay đổi

Mấy hôm nay có thấy hai cái Infographic khá hay : “The history of Networks” và “What is the network effect? The value of users explained“.  Để nói tới giá trị của user và giá trị của network (mà user nằm trong đó) thì cần phải đi lại một lượt về lịch sử của truyền thông (xem Infographic đầu tiên).

Sarnoff's Law

Năm 1928, David Sarnoff thành lập NBC (National Broadcasting Company) tại Mỹ và sau đó là trở thành người quản lý của RCA (Radio Corporation of America). Quy luật của Sarnoff (Sarnoff’s law) đương nhiên cũng được áp dụng đặt trong bối cảnh giữa người nghe và trạm phát radio. Vì đây là quan hệ 1-nhiều nên một trạm phát có 100 người nghe sẽ có giá trị gấp 10 lần so với một trạm phát có 10 người nghe. Người nghe trong trường hợp này cũng không liên lạc được trực tiếp với nhau.

Metcalfe's Law

Quy luật Metcalfe gắn với tên của Robert Metcalfe, người sáng lập ra Ethernet (năm 1976) và đồng sáng lập 3Com. Trong một mạng có kết nối hai chiều giữa người sử dụng (chứ không phải quan hệ một chiều như trạm phát radio – người nghe) thì giá trị của network sẽ tỷ lệ thuận với bình phương của số người sử dụng. Nói cách khác, mạng điện thoại và các mạng cung cấp các kết nối Internet đơn giản như email khi có 100 thành viên sẽ có giá trị gấp 25 lần so với mạng cùng loại nhưng chỉ có 20 thành viên.

Reed's Law

Quy luật Reed gắn với tên của David P.Reed (cũng xuất phát từ MIT giống Metcalfe). Quy luật này còn được gọi là “The Law of Pack” và được sử dụng cho các mạng xã hội ngày nay. Quy luật này nói rằng một network trong đó các thành viên có thể tạo ra các nhóm (group) bất kỳ tương tác với nhau có 100 thành viên sẽ có giá trị hơn 290 lần so với một mạng tương tự có 10 thành viên.

Một user tùy thuộc vào từng loại network và cách mà user đó có thể kết nối với các user khác để tạo ra giá trị chung cho network. Một mạng xã hội được quản lý chặt chẽ bởi nhà nước hoặc các tổ chức quản lý chỉ chăm chú truyền tải thông tin một chiều thì vẫn sẽ chỉ dừng lại ở quy luật Sarnoff mà không tận dụng hết giá trị của network như trong quy luật Reed khi số lượng thành viên tham gia tăng lên.

Một ví dụ khác dành cho sự thay đổi giá trị của user khi thay đổi network là Trang Vàng (Yellow Pages). Trang Vàng trong các cuốn danh bạ điện thoại (bản in giấy) chỉ có tác dụng thông tin một chiều, Trang Vàng + điện thoại sẽ mang lại giá trị như quy luật Metcalfe còn mô hình Trang Vàng mở rộng trên Internet như Yelp hay Thổ Địa cung cấp cho người sử dụng nhiều thông tin hơn và ngược lại, thông tin của người sử dụng cũng được coi trọng và có sức mạnh nhiều hơn.

Giá trị của user đã thay đổi khi họ tham gia vào những mạng xã hội. Vậy tại sao cứ bấu víu lấy những quy luật quảng cáo cũ – 1 chiều và vô tình – đánh giá thấp sức mạnh của user. Đến bao giờ marketer mới thực sự lắng nghe user?

Vấn đề với các loại mô hình kim tự tháp và bậc thang

Bài này là bài viết từ năm 2010 của Richard Millington, nhân dịp rảnh rỗi dọn dẹp tin tức cần đọc (từ năm 2010  :-( ) mới lôi ra đọc lại. Trong bài viết “The problem with ladders and pyramids“, Rich có nêu lên một vài vấn đề cũng khá hay :

The problem is they encourage you to focus on changing the actions rather than provoking the feelings that prompt these actions.

You don’t convert a collector to a critic by asking someone tagging articles to review content, nor by any other trick to solicit that action. Actions are a symptom of increasing engagement, they don’t cause people to be more engaged. These tools are for measurement, not for plans of action.

Actions rarely provoke feelings. Feelings provoke actions. Don’t persuade members on one rung to take the actions of the rung above. This defeats the point. Focus on making members feel more engaged, not act more engaged.

Quay trở lại năm 2010, khi có cơ hội tiếp cận với cuốn Groundswell (cuốn này đã được dịch sang tiếng Việt khá cẩn thận với tiêu đề “Làn sóng ngầm“), mình và @anhhung đã rất háo hức bởi không phải lúc nào bạn cũng có một framework tốt để nghiên cứu và đưa ra quyết định phù hợp. Tuy vậy, sau khi đọc, thử xác định Technographic bằng việc sử dụng poll (và đã có một session tại Barcamp năm đó), nhìn chung bọn mình đều nhận thấy rằng framework này tương đối khó áp dụng và chỉ dành cho các bạn nhà giàu :D . Điều này có nghĩa rằng bạn không có đủ tiền để đưa ra số liệu chính xác, xây dựng Technographic Ladder cho thị trường bạn đang nhắm tới thì coi như là chả đưa ra được quyết định đúng nào cả.

Sau khi ra cuốn Groundswell ra đời một thời gian, nhóm tác giả cũng đã thêm vào Ladder của mình thành phần Conversationalist để bao trùm được Twitter. Tuy vậy, việc thêm thành phần này vào Ladder lúc đó cũng làm mình hơi hoang mang.

Quay trở lại với các loại mô hình kim tự tháp và bậc thang. Chắc hẳn ai cũng biết tháp nhu cầu Maslow trong đó phần nhu cầu an toàn cho bản thân thấp hơn rất nhiều so với nhu cầu thể hiện cá nhân. Cá nhân mình cho rằng việc gắn chặt sản phẩm/con người/khách hàng vào một thành phần nào đó của mô hình kim tự tháp, bậc thang … không được linh hoạt cho lắm và có thể dẫn tới sai lầm. Cái Rich nhấn mạnh qua bài viết của mình có lẽ là cảm xúc ẩn dưới/tạo ra hành động tương ứng với các bậc thang (rung) khác nhau. Hôm qua, khi tham gia buổi offline của Launch + OC với tư cách là một speaker, mình chỉ muốn được nhảy xuống dưới để làm người tham dự bình thường và được phép đặt nhiều câu hỏi cho 3 mạng xã hội nội địa đình đám nhất Việt Nam, trong đó có câu hỏi liên quan tới việc nhu cầu thể hiện cá nhân có thể bị đẩy xuống trở thành nhu cầu an toàn cho bản thân dựa trên việc cảm xúc trên cùng một môi trường với từng case khác nhau có thể thay đổi khác nhau:

Không phải lúc nào mình cũng làm chuyện tốt, bàn chuyện tốt được, giờ mình đóng vai con người xấu xa một chút. Xấu xa thì nghe không tích cực, nhưng mà có nhiều chuyện cũng xấu hổ mà không phải lúc nào cũng có thể thẳng thắn ra mặt mà chia sẻ được. Tỷ như chuyện năm 5 tuổi mình còn tắm chung với cô hàng xóm rất vui, mỗi đứa ngồi trong một cái chậu to vật nhưng đến năm 6 tuổi đi học lớp 1 mình lại bị xấu hổ không tắm chung nữa. Chia sẻ những chuyện ấy trên các mạng xã hội khi có identity quá rõ thì sẽ không hay, trong khi chia sẻ nó ở dạng vô danh kiểu như forum thì sẽ hay hơn. Rồi thì nếu mà mình lỡ lời chia sẻ cái gì đó trên Facebook thì mình vẫn có cảm giác an toàn hơn là chia sẻ trên mạng xã hội ở Việt Nam, bởi không biết lúc nào đó mạng xã hội ở Việt Nam có thể cung cấp thông tin của mình cho chính phủ khi được yêu cầu (và chắc chắn họ phải cam kết điều này nếu muốn cung cấp dịch vụ ở VN). Đấy cũng là lý do mà 3 lần mình định đăng ký account của Go.vn thì đều dừng lại ở phần nhập CMT mà không đăng ký nữa. Các MXH ở VN nghĩ sao về điều này?

Update : Sina Weibo (dịch vụ microblog) cũng trở thành nguồn đưa tin thứ 3 tại TQ bởi lý do duy nhất rằng ở đây (Sina Weibo) ít bị kiểm duyệt hơn ở các chỗ khác khi đưa tin và thảo luận về tin.

Nghĩ về bong bóng mạng xã hội và sự tồn tại vững chắc của forum tại Việt Nam

Viết bài này bắt đầu từ sau khi đọc phần thảo luận này trên LinkHay và bài gốc tại BusinessWeek. Để nói về bong bóng mạng xã hội, lại phải đọc lại bong bóng dot-com trước khi viết tiếp bất cứ thứ gì. Wikipedia nói rằng :

Venture capitalists saw record-setting growth as dot-com companies experienced meteoric rises in their stock prices and therefore moved faster and with less caution than usual, choosing to mitigate the risk by starting many contenders and letting the market decide which would succeed. The low interest rates in 1998–99 helped increase the start-up capital amounts. Although a number of these new entrepreneurs had realistic plans and administrative ability, many more of them lacked these characteristics but were able to sell their ideas to investors because of the novelty of the dot-com concept.

The dot-com model was inherently flawed: a vast number of companies all had the same business plan of monopolizing their respective sectors through network effects, and it was clear that even if the plan were sound, there could only be one network-effects winner in each sector, and therefore that most companies with this business plan would fail. In fact, many sectors could not support even one company powered entirely by network effects.

According to dot-com theory, an Internet company’s survival depended on expanding its customer base as rapidly as possible, even if it produced large annual losses. For instance, Google and Amazon did not see any profit in their first years.

Public awareness campaigns were one of the ways in which dot-coms sought to expand their customer bases. These included television ads, print ads, and targeting of professional sporting events. Many dot-coms named themselves with onomatopoeic nonsense words that they hoped would be memorable and not easily confused with a competitor.

More in-depth analysis shows that 50% of the dot-coms companies survived through 2004. With this, it is safe to assume that the assets lost from the Stock Market do not directly link to the closing of firms. More importantly, however, it can be concluded that even companies who were categorized as the “small players” were adequate enough to endure the destruction of the financial market during 2000-2002. Additionally, retail investors who felt burned by the burst transitioned their investment portfolios to more cautious positions.

Đọc nhanh có thể thấy rằng bong bóng dot-com tại Mỹ đã xảy ra do việc đổ vốn một cách dễ dãi vào nhiều sản phẩm có mô hình giống nhau, đồng thời các sản phẩm này đốt tiền khá nhanh và không có nhiều sự lựa chọn trong việc tiếp cận khách hàng (dẫn tới việc bỏ nhiều tiền cho quảng cáo offline). Bong bóng này vỡ nhưng big-player có giá trị vẫn tồn tại được, và vỡ do rất nhiều nguyên nhân khác nhau (xin đọc kỹ bài trên Wikipedia – các nguyên nhân liên quan tới chính sách, thị trường…) Có thể nói, vỡ là vỡ các player vốn đã mong manh như bong bóng, chỉ cần thị trường hắt hơi là xẹp.

————————————————————

Bong bóng đang trở lại? Với một dạng thức khác tinh vi hơn? Điểm đầu tiên để nói là việc đổ vốn một cách dễ dãi. Ở Mỹ và ở Việt Nam đều vậy. Không muốn nói và không muốn nhắc tới những sản phẩm đã chết, âm thầm hoặc công khai chết nhưng không ít các sản phẩm (ở tại Việt Nam) được xây dựng bởi những công ty lớn và những con người rất chuyên nghiệp. Nhưng rồi ngỏm vì đổ vốn dễ dãi quá. Sự dễ dãi này có căn cơ từ một điều rất cũ, đã từng được nói rất nhiều trong dot-com bubble : mô hình kinh doanh dựa vào việc phát triển bề rộng, có càng nhiều người sử dụng càng nhanh càng tốt trong khi còn loay hoay trong việc kiếm tiền trên những người sử dụng này như thế nào. Hammerbacher trong bài báo của BusinessWeek đã phải thốt lên “That’s suck” là vì như vậy. Là một trong số 100 nhân viên đầu tiên của Facebook, Hammerbacher có nhiệm vụ nghiên cứu hành vi của người sử dụng Facebook và để cuối cùng để Facebook lại sử dụng một mô hình rất cũ để kiếm tiền : quảng cáo. Dù hình thức quảng cáo lần này có hướng đối tượng hơn, thì đó vẫn là bài cũ : nhiều users, nhiều traffic và hy vọng là CTR sẽ cao.

————————————————————

Wave thứ nhất là để giải quyết vấn đề về thông tin, dạng know-how. Wave thứ hai cũng là để giải quyết vấn đề về thông tin, dạng social (copy của bạn Xoài). Wave thứ ba là gì? Bạn Xoài và nhiều người khác vẫn đang đi tìm. Trong khi bạn Xoài và người khác đi tìm, một số bạn guru khác ở Mỹ như Hammerbacher bỏ ngang đi làm việc khác có ích hơn cho đời thì vẫn có nhiều người khác kiếm được tiền. Tỷ như Groupon kiếm được một đống tiền. Tỷ như Color kiếm được một đống tiền đầu tư. Tỷ như TechCrunch kiếm được một đống tiền từ AOL nhờ việc viết về một đống các bạn khác kiếm tiền như thế nào.

Google và Facebook đại diện cho hai làn sóng thông tin ập tới nhanh, mạnh và thừa mứa với người sử dụng trong hai thập kỷ gần đây. Thông tin đến từ SE giờ lại đến tiếp từ mạng xã hội (mà nói là mạng xã hội chung chung quá, đến từ những kết nối trên mạng xã hội). Quảng cáo tới từ SE và giờ quảng cáo cũng lại đến từ mạng xã hội. Hai làn sóng này đều điểm chung là khó lòng bắt người sử dụng cuối cùng có thể trả tiền được. Do vậy, quảng cáo vẫn là nguồn thu chính không thể phủ nhận. Thế nhưng, để có được tiền từ quảng cáo thì bạn phải đứng được trên đầu sóng. Bí quyết kiếm tiền từ trước tới nay thực ra rất đơn giản : mang lại lợi ích cho người trả tiền và làm người ta hài lòng với lợi ích đấy. Liệu có làm được không? Liệu có thuyết phục được các hãng lớn trả tiền quảng cáo cho bạn không? Rồi lại lao vào vòng xoáy luẩn quẩn phải có thật nhiều user, phải có thật nhiều traffic, trong khi chưa chắc traffic đó đã đủ nuôi nổi tiền duy trì server?

————————————————————

Forum ở Việt Nam vẫn sống tốt, sống dai. Tại sao lại thế? Tại vì bị cấm Facebook? Còn một đống các mạng xã hội khác cơ mà? Forum khác với mạng xã hội có lẽ ở chỗ bất cứ ai cũng có thể xuất hiện ở trên đó một cách vô danh và bất cứ ai cũng có thể xây dựng cho mình một hình ảnh mình muốn trước cả cộng đồng nếu đủ giỏi. Forum cũng thân thiện với Search Engine và có thể search được, không như Facebook. Forum cũng không ấn vào đầu bạn các thông tin kiểu như Anh A ngáp, chị B chuyển sang quan hệ phức tạp với anh C, anh C trồng được 3 củ su hào ở vườn (ảo) của anh ấy … Vô hình trung, khi thông tin (người sử dụng) không cần thiết trên mạng xã hội cần phải lọc bớt, Forum lại là chỗ tốt bởi vì nó đã được lọc sẵn các thông tin này. Forum cũng là chỗ tốt cho người Việt Nam khi muốn thảo luận nhưng lại không phải lúc nào cũng muốn lộ mặt.

Kết nối là cần thiết. Không cần phải có Facebook thì mới có kết nối, nhưng có Facebook thì mình kết nối được với nhiều người hơn. Kết nối với nhiều người hơn thì mình phải duy trì kết nối nhiều hơn, hoặc mình sẽ mất kết nối đó. Vậy nên mới thi thoảng lại thấy bạn bè quyết tâm xóa bớt kết nối đi, từ 2000 cố xuống 1000, rồi 1000 lại cố xuống 500 hay thậm chí là 100… Ống nước không có nước thì sẽ han rỉ thôi. Sản phẩm không mang lại giá trị thật cho người sử dụng mà lại làm người sử dụng phát mệt thì chắc rồi cũng sẽ han rỉ.

————————————————————

Không dám bàn về chuyện bong bóng sẽ diễn ra như thế nào, cũng không muốn bàn vì mình cũng là người trong ngành. Thế nhưng, nếu bạn không to, không khỏe bằng Facebook thì cũng nên xem lại các dấu hiệu đã từng có khi bong bóng dot-com xảy ra và tự so sánh tình trạng hiện tại của mình với các dấu hiệu đó. Rồi thì hãy chuẩn bị bút viết để điền vào tấm business card trống mà CJ Chilvers đã gợi ý. Khi chẳng may bong bóng có vỡ, lúc ấy đỡ phải in lại card-visit và chức danh của mình  :mrgreen: . Dù sao thì phát ra một tấm card tự tay viết cũng khó hơn là ấn vào nút Add friend chứ. Và nếu không thích phát card, bạn có thể đưa biz card trắng trơn ra và bảo, haiz, tôi để quên card ở nhà rồi. Như thế có phải là giống hơn với việc ngụp lặn vô danh trên Forum hay không?

Location – một layer mới của Social Graph

Ngày hôm trước khi đứng ở cổng một quán bar trên đường (e hèm, giờ vẫn không nhớ rõ tên là đường gì), cứ cho là đường X nằm ở quận 1 (Sài Gòn) để gọi taxi, tôi chợt nghĩ rằng giá mà cuộc gọi của mình có thể nói luôn cho tổng đài taxi biết rằng mình đang ở đâu thì tốt. Hoặc giả là mình có thể gửi một tin nhắn mà trong đó tin nhắn có chứa luôn vị trí chính xác của mình thì tốt quá. Jishan có gợi ý rằng có thể dùng Twit hoặc FB bởi vì “chúng nó” đều đã có gắn vị trí địa lý ở trên đó. Thế nhưng giải pháp này có vẻ hơi geeky quá thì phải. Dù sao thì mong muốn của tôi khi đứng ở một chỗ mình không thân quen mà gọi taxi là có thể có cách nào đó nói cho tổng đài biết chính xác mình đang ở đâu một cách dễ dàng và tự động.

Chaotic Baguio

Tuần trước cũng mới đọc một bài viết có tên “Location is Now Part of the Social Graph“. Cá nhân tôi cho rằng có lẽ nên dùng chữ “layer” thì rõ hơn. Và sẽ không chỉ dừng lại ở layer này. Còn tại sao gọi nó là “layer”? Bởi vì bạn có thể cắt hẳn một lát chuyên về Location trong Social Graph mà vẫn đáp ứng được đầy đủ tính chất của Social Graph “the global mapping of everybody and how they’re related”.

Bản thân hệ thống vị trí địa lý là một hệ thống tương đối cổ xưa. Từ thời xưa ai cũng đã có một địa chỉ để liên lạc, để gửi thư. Qua đó thì dần dần thư quảng cáo cũng theo các hệ thống địa chỉ này mà “tấn công” con người. Thời nay người ta cũng cho rằng Location sẽ cung cấp cho người ta khả năng bắn tin quảng cáo theo vị trí địa lý (giống như chuyện bạn đi tới một khu vực phường Y quận Z và sẽ nhận được một thông báo qua SMS/FB/Twitter hoặc cái gì khác nói rằng quán bia ở gần đó đang có giảm giá 10% vậy). Tuy nhiên đây chắc chắn không phải là phương thức hay ho vì bất cứ cái gì Spam cũng chẳng hay ho. Nó chỉ hay ho khi người ta muốn nhận nó. Vì vậy, vấn đề Privacy chắc chắn là một vấn đề cực kỳ nhạy cảm với Layer mới mà cũ này. Nếu không chú ý vấn đề này, rồi chắc chắn tới một lúc bạn sẽ cảm giác rằng lúc nào cũng có một quả tên lửa đang treo trên đầu mình và cho dù mình đi tới đâu thì nó cũng có thể …boom cho mình một cú vào lúc mình không để ý.

Điều mà tôi mong muốn ở Layer này không phải là khả năng check in (chỉ để nhận badge như Foursquare đang làm hoặc tốt hơn một chút là nhận được khuyến mại nếu check in nhiều lần), cũng không phải (mà là nhiều hơn) những gì Groupon đang cung cấp. Nếu coi rằng việc di chuyển từ điểm này sang điểm kia là một bước chuyển trạng thái thì Layer mới liên quan tới vị trí địa lý phải có khả năng cung cấp cho tôi những thông tin tốt nhất để phục vụ cho bước chuyển trạng thái này. Và có nghĩa rằng nó phải có khả năng đoán định, khuyến cáo cho tương lai (gần) chứ không phải là việc cung cấp thông tin về địa điểm mà hiện tại tôi (đã) đang ở đó.

Ví dụ nhé :

- Nếu đi du lịch, tôi phải biết được thông tin về địa điểm sắp tới, kiểu như thời tiết, local news (có bắn giết nhau không), thời gian nào là lúc chụp ảnh tốt nhất, địa điểm nào là nơi có thể chụp ảnh được tốt nhất.

- Nếu di chuyển trên đường, khả năng đi vào đường này sẽ bị tắc là bao nhiêu %, nếu đi xe ga thì có gặp ngập sâu tới mức chết máy hay khong.

- Nếu chuẩn bị đi mua sắm, siêu thị tôi sắp bước vào có đang bị quá tải khi thanh toán hay không …

Còn rất nhiều ví dụ kiểu vậy. Social Graph đứng không thì chẳng giải quyết được gì, nó giống như ống dẫn dầu mà không có dầu chảy qua thì cũng phí. Thế nhưng cách tiếp cận theo kiểu phục vụ cho “quá khứ” bây giờ dường như không ổn. Dù sao vẫn đặt cược rằng sự bùng nổ trong năm 2011 chắc chắn sẽ liên quan tới Location-based app, SNS… nhất là khi các thiết bị cầm tay ngày càng hỗ trợ tốt cho Layer này.

15000 đồng và 1000 tỷ

So what do you want now?

Một bài viết trên mạng Việt Nam Goonline.vn hôm nay đã đặt ra một câu hỏi khá hay “Nếu các bạn gạt bỏ mọi thành kiến về một mạng xã hội Việt Nam thì hay biết chừng nào?”.

Thành kiến quả thật là một điều kinh khủng trong xã hội, đặc biệt là xã hội có ít nhiều ảnh hưởng của đạo Khổng. Nó tạo cho ta quá nhiều sai lầm trong cuộc đời. Đã từng viết một bài về Thành kiến với mục đích chỉ là viết cho bản thân mình, cá nhân tôi nghĩ rằng câu hỏi phía trên là một câu hỏi đúng.

Tuy vậy, sau khi đọc hết cả bài viết trên, tôi bất chợt tự hỏi mình “Này, khoan, này này, cuối cùng là ai thành kiến?”. Hình như không phải là mình có thành kiến, mà chính những người bảo mình gạt bỏ thành kiến đang có thành kiến đấy chứ. Họ đang tự cô lập bản thân họ vào thế đối lập với tất cả mọi người. Một người/nhóm làm sản phẩm được tặng cho một số tiền khổng lồ, được áp đặt những mục tiêu lớn và được gieo vào đó niềm tin chiến thắng. Cứ làm đi, làm là mọi người sẽ PHẢI dùng. Cá nhân tôi cho rằng, thay vì việc cho rằng mọi người đang thành kiến với mình theo một cách “sợ sệt” như vậy, hãy cứ làm cho tốt sản phẩm đi để chứng minh với người dùng rằng mình xứng đáng nhận số tiền khổng lồ và mục tiêu lớn đó. Còn không, chính họ chứ không phải người dùng mới là người đang có thành kiến nặng.

————————————————————————-

Sáng nay, Đức Ban có viết một topic về việc vợ chồng bạn ý đã xúc động như thế nào trước tình hình của em bé bị lòi ruột ra ngoài không có tiền mổ, người ông thì phải đi xếp gạch để nhận 15000 đ/ngày. Ban là một người thẳng tính và ít nhiều cũng có quan điểm cá nhân khá aggressive về một vài chuyện (mà các bạn có thể gọi đó là có chút Thành kiến :P ), thế nhưng cái cách vợ chồng bạn Ban phản ứng với những gì em bé đang cần, đang phải hứng chịu thì thật tuyệt vời. Ít nhất cho đến giờ phút này Ban, Min và một vài bạn khác đã quyên góp được 4 triệu (có nghĩa là ~ 9 tháng xếp gạch của ông cụ). Hãy nhìn xem, một người (mà cứ cho là) có thành kiến (với một vài chuyện) có thể làm được điều tốt và thật lòng như vậy cơ mà??? Họ đâu có cần phải đợi ai mắng mỏ, đợi ai lên lớp cho họ đâu?

————————————————————————-

Jon Morrow đã chia sẻ trong cuốn The Tribes Casebook một suy nghĩ rất hay. Jon nói rằng có những Tribe (bộ lạc) mà bạn không có quyền lựa chọn xem bạn có tham gia hay không. Một trong những bộ lạc đó là Bộ lạc của người tàn tật bẩm sinh. Chẳng ai muốn tham gia bộ lạc này, thậm chí họ còn cảm giác họ bị bắt cóc từ Bộ lạc của những người bình thường sang. Thế nhưng, cái cách mà Bộ lạc của những người tàn tật bẩm sinh tồn tại thì lại tốt hơn rất nhiều Bộ lạc của những người bình thường. Họ động viên nhau, chăm sóc và cảm thông lẫn nhau, cái mà Bộ lạc của những người bình thường không làm được. Jon thậm chí sau khi chấp nhận việc mình là thành viên của Bộ lạc của những người tàn tật bẩm sinh thì đã rất hạnh phúc.

————————————————————————-

3 đoạn trên chỉ muốn kết lại thành một câu : trong bất kỳ trường hợp nào, đừng đẩy người sử dụng vào thế phải tham gia Bộ lạc chống lại bạn trong khi thực ra họ hoàn toàn có thể giúp bạn nếu bạn yêu cầu họ một cách thật lòng.

Bong bóng Social Media – điều chẳng mới

Sáng dậy đọc được một bài dịch khá hay trên Tuần Việt Nam với link gốc tiếng Anh mang tựa đề “The Social Media Bubble“. Tác giả đưa ra một thuật ngữ khá hay là “Lạm phát các mối quan hệ” – Relationship inflation. Lạm phát theo kiến thức sơ đẳng của tôi về kinh tế thì luôn đồng nghĩa với sự mất giá. 10 đồng trước mua được 10 cái kẹo lạc thì nay chỉ mua được 7 cái, có khi hôm sau lại chỉ mua được 3 cái nữa thôi. Vậy là mối quan hệ sẽ bị mất giá? Vậy giá trị của mối quan hệ đến từ đâu?

—————————————————————

Trước hết, hay quay trở lại với thống kê, với con số Dunbar. Như đã từng viết blog một lần vào hồi tháng 10 năm ngoái, số Dunbar là số lượng bạn bè mà bạn có thể duy trì quan hệ hai chiều một cách ổn định và thường xuyên. Trung bình thì một người châu Á có thể duy trì quan hệ với 107 người và Việt Nam thì ở mức thấp hơn : 80 người. Những mạng xã hội như Y!360, Facebook và người tiền nhiệm vẫn còn sống khỏe trước đó của nó là Forum đã làm rất tốt việc tăng số Dunbar Number này lên. Hãy nhìn bảng thống kê ở dưới đây và bạn sẽ thấy nó có tận 3 phần : bạn offline, bạn online và bạn thân. Số lượng bạn thân thường chỉ chiếm 10% số lượng bạn bè mà bạn có.

—————————————————————

Trong bài viết của mình, Umair Haque cho rằng các mối quan hệ thực là các mối quan hệ được đầu tư hai chiều. Tiền bạc, thời gian, sự chăm sóc… Mối quan hệ của Social Media (và thực sự phải là Social Graph) không phải là mối quan hệ thực vì nó không được đầu tư tương hỗ lẫn nhau. Niềm tin bị giảm sút, sự căm ghét có thể được phóng đại, giá trị bị mòn đi vì tôi không gặp gỡ và trao đổi với người thật … Và cuối cùng, ông kết luận :

Hãy tóm tắt lại. Trên khía cạnh cầu, lạm phát quan hệ tạo ra những hiệu ứng của cuộc thi sắc đẹp, nơi, chỉ cần mỗi một sự đánh giá bầu chọn cho thí sinh mà họ nghĩ là những người khác sẽ thích nhất, người ta truyền tải những điều người ta nghĩ người khác muốn. Trên khía cạnh cung, lạm phát quan hệ tạo ra hiệu ứng của cuộc thi đại chúng, nơi mọi người (và các nghệ sĩ) cố gắng để thu hút sự chú ý bản năng và tức thì – thay vì tạo ra thứ kinh hoàng.

—————————————————————

Tôi không cho rằng Umair sai. Tôi chỉ nghĩ rằng ông không đúng.

Điều thứ nhất, xã hội biến đổi, con người biến đổi và trên hết là sự thích nghi – bản năng rất tự nhiên.

Điều thứ hai, phần lớn đám đông không thể chống lại xu hướng, họ phải thích nghi với xu hướng để tồn tại.

Điều thứ ba, giá trị trên mạng là giá trị tương hỗ và hai chiều, thậm chí là cực kỳ hai chiều luôn.

Điều thứ tư, Umair lo lắng về các giá trị bị xói mòn khi phải nói chuyện, giao dịch với người không biết mặt nhưng lại không hề nhắc tới và nhớ rằng trước đây thì dù có giao dịch Face2Face, họ chỉ có hai hoặc một nhóm nhỏ người biết cuộc trao đổi giao dịch này. Bây giờ, cả thế giới có thể biết được tôi đang xem gì, tôi đang làm gì, tôi mua gì, bán gì cho ai trên Wall của tôi, trên Live Feed của tôi, trên Stream Activity của tôi hay bất cứ cái quỷ quái gì tương tự thế, tôi thậm chí phải cẩn thận hơn để bảo vệ hình ảnh của mình chứ?

Điều cuối cùng, không có thước đo chính xác về giá của mối quan hệ để nói nó lạm phát hay không. Sự thích nghi của con người cho phép người ta chấp nhận và có cảm giác hạnh phúc không kém gì quá khứ. Nói rõ hơn, một bức thư tay hồi xưa và một bài hát bây giờ post trên Facebook để tặng bạn khi đang buồn, cái nào có giá trị hơn? Chuẩn mực về giá thay đổi nên nói Umair không sai khi xét trên chuẩn mực cũ và ông đã không đúng trên chuẩn mực mới.

—————————————————————

Cái gì đến phải đến, cái gì đi rồi sẽ đi. Con người chẳng phải lần đầu tiên đối mặt với những thứ như thế này, họ đã đối mặt nhiều lần khi mà xã hội phát triển từ bộ lạc tới làng xóm, thành phố, đô thị và siêu đô thị rồi. Hôm qua một người bạn nói với tôi rằng “Bây giờ có những lúc ngôn ngữ thật bất lực, muốn nói gì đó lắm mà không nói được“. Tôi buột miệng “Thì Facebook có cái nút Like là vì thế đó“. Like một cái, vừa lịch sự lại vừa không xu nịnh, thế có khi lại chẳng hay hơn?

Content hay Relationship, Relationship hay Content

Tán nhảm tí cho vui. Paste lại để tìm hiểu thêm.

—–

Nguyen Thanh Long: 10:32:08
flickr co phai mang xa hoi ko :D
Nguyen Anh Hung: 10:32:31
user generated content
Nguyen Anh Hung: 10:32:38
no la content sharing
Nguyen Thanh Long: 10:32:41
the mang xa hoi khac’ voi UGC cai gi? [Read more...]