Nghĩ về bong bóng mạng xã hội và sự tồn tại vững chắc của forum tại Việt Nam

Viết bài này bắt đầu từ sau khi đọc phần thảo luận này trên LinkHay và bài gốc tại BusinessWeek. Để nói về bong bóng mạng xã hội, lại phải đọc lại bong bóng dot-com trước khi viết tiếp bất cứ thứ gì. Wikipedia nói rằng :

Venture capitalists saw record-setting growth as dot-com companies experienced meteoric rises in their stock prices and therefore moved faster and with less caution than usual, choosing to mitigate the risk by starting many contenders and letting the market decide which would succeed. The low interest rates in 1998–99 helped increase the start-up capital amounts. Although a number of these new entrepreneurs had realistic plans and administrative ability, many more of them lacked these characteristics but were able to sell their ideas to investors because of the novelty of the dot-com concept.

The dot-com model was inherently flawed: a vast number of companies all had the same business plan of monopolizing their respective sectors through network effects, and it was clear that even if the plan were sound, there could only be one network-effects winner in each sector, and therefore that most companies with this business plan would fail. In fact, many sectors could not support even one company powered entirely by network effects.

According to dot-com theory, an Internet company’s survival depended on expanding its customer base as rapidly as possible, even if it produced large annual losses. For instance, Google and Amazon did not see any profit in their first years.

Public awareness campaigns were one of the ways in which dot-coms sought to expand their customer bases. These included television ads, print ads, and targeting of professional sporting events. Many dot-coms named themselves with onomatopoeic nonsense words that they hoped would be memorable and not easily confused with a competitor.

More in-depth analysis shows that 50% of the dot-coms companies survived through 2004. With this, it is safe to assume that the assets lost from the Stock Market do not directly link to the closing of firms. More importantly, however, it can be concluded that even companies who were categorized as the “small players” were adequate enough to endure the destruction of the financial market during 2000-2002. Additionally, retail investors who felt burned by the burst transitioned their investment portfolios to more cautious positions.

Đọc nhanh có thể thấy rằng bong bóng dot-com tại Mỹ đã xảy ra do việc đổ vốn một cách dễ dãi vào nhiều sản phẩm có mô hình giống nhau, đồng thời các sản phẩm này đốt tiền khá nhanh và không có nhiều sự lựa chọn trong việc tiếp cận khách hàng (dẫn tới việc bỏ nhiều tiền cho quảng cáo offline). Bong bóng này vỡ nhưng big-player có giá trị vẫn tồn tại được, và vỡ do rất nhiều nguyên nhân khác nhau (xin đọc kỹ bài trên Wikipedia – các nguyên nhân liên quan tới chính sách, thị trường…) Có thể nói, vỡ là vỡ các player vốn đã mong manh như bong bóng, chỉ cần thị trường hắt hơi là xẹp.

————————————————————

Bong bóng đang trở lại? Với một dạng thức khác tinh vi hơn? Điểm đầu tiên để nói là việc đổ vốn một cách dễ dãi. Ở Mỹ và ở Việt Nam đều vậy. Không muốn nói và không muốn nhắc tới những sản phẩm đã chết, âm thầm hoặc công khai chết nhưng không ít các sản phẩm (ở tại Việt Nam) được xây dựng bởi những công ty lớn và những con người rất chuyên nghiệp. Nhưng rồi ngỏm vì đổ vốn dễ dãi quá. Sự dễ dãi này có căn cơ từ một điều rất cũ, đã từng được nói rất nhiều trong dot-com bubble : mô hình kinh doanh dựa vào việc phát triển bề rộng, có càng nhiều người sử dụng càng nhanh càng tốt trong khi còn loay hoay trong việc kiếm tiền trên những người sử dụng này như thế nào. Hammerbacher trong bài báo của BusinessWeek đã phải thốt lên “That’s suck” là vì như vậy. Là một trong số 100 nhân viên đầu tiên của Facebook, Hammerbacher có nhiệm vụ nghiên cứu hành vi của người sử dụng Facebook và để cuối cùng để Facebook lại sử dụng một mô hình rất cũ để kiếm tiền : quảng cáo. Dù hình thức quảng cáo lần này có hướng đối tượng hơn, thì đó vẫn là bài cũ : nhiều users, nhiều traffic và hy vọng là CTR sẽ cao.

————————————————————

Wave thứ nhất là để giải quyết vấn đề về thông tin, dạng know-how. Wave thứ hai cũng là để giải quyết vấn đề về thông tin, dạng social (copy của bạn Xoài). Wave thứ ba là gì? Bạn Xoài và nhiều người khác vẫn đang đi tìm. Trong khi bạn Xoài và người khác đi tìm, một số bạn guru khác ở Mỹ như Hammerbacher bỏ ngang đi làm việc khác có ích hơn cho đời thì vẫn có nhiều người khác kiếm được tiền. Tỷ như Groupon kiếm được một đống tiền. Tỷ như Color kiếm được một đống tiền đầu tư. Tỷ như TechCrunch kiếm được một đống tiền từ AOL nhờ việc viết về một đống các bạn khác kiếm tiền như thế nào.

Google và Facebook đại diện cho hai làn sóng thông tin ập tới nhanh, mạnh và thừa mứa với người sử dụng trong hai thập kỷ gần đây. Thông tin đến từ SE giờ lại đến tiếp từ mạng xã hội (mà nói là mạng xã hội chung chung quá, đến từ những kết nối trên mạng xã hội). Quảng cáo tới từ SE và giờ quảng cáo cũng lại đến từ mạng xã hội. Hai làn sóng này đều điểm chung là khó lòng bắt người sử dụng cuối cùng có thể trả tiền được. Do vậy, quảng cáo vẫn là nguồn thu chính không thể phủ nhận. Thế nhưng, để có được tiền từ quảng cáo thì bạn phải đứng được trên đầu sóng. Bí quyết kiếm tiền từ trước tới nay thực ra rất đơn giản : mang lại lợi ích cho người trả tiền và làm người ta hài lòng với lợi ích đấy. Liệu có làm được không? Liệu có thuyết phục được các hãng lớn trả tiền quảng cáo cho bạn không? Rồi lại lao vào vòng xoáy luẩn quẩn phải có thật nhiều user, phải có thật nhiều traffic, trong khi chưa chắc traffic đó đã đủ nuôi nổi tiền duy trì server?

————————————————————

Forum ở Việt Nam vẫn sống tốt, sống dai. Tại sao lại thế? Tại vì bị cấm Facebook? Còn một đống các mạng xã hội khác cơ mà? Forum khác với mạng xã hội có lẽ ở chỗ bất cứ ai cũng có thể xuất hiện ở trên đó một cách vô danh và bất cứ ai cũng có thể xây dựng cho mình một hình ảnh mình muốn trước cả cộng đồng nếu đủ giỏi. Forum cũng thân thiện với Search Engine và có thể search được, không như Facebook. Forum cũng không ấn vào đầu bạn các thông tin kiểu như Anh A ngáp, chị B chuyển sang quan hệ phức tạp với anh C, anh C trồng được 3 củ su hào ở vườn (ảo) của anh ấy … Vô hình trung, khi thông tin (người sử dụng) không cần thiết trên mạng xã hội cần phải lọc bớt, Forum lại là chỗ tốt bởi vì nó đã được lọc sẵn các thông tin này. Forum cũng là chỗ tốt cho người Việt Nam khi muốn thảo luận nhưng lại không phải lúc nào cũng muốn lộ mặt.

Kết nối là cần thiết. Không cần phải có Facebook thì mới có kết nối, nhưng có Facebook thì mình kết nối được với nhiều người hơn. Kết nối với nhiều người hơn thì mình phải duy trì kết nối nhiều hơn, hoặc mình sẽ mất kết nối đó. Vậy nên mới thi thoảng lại thấy bạn bè quyết tâm xóa bớt kết nối đi, từ 2000 cố xuống 1000, rồi 1000 lại cố xuống 500 hay thậm chí là 100… Ống nước không có nước thì sẽ han rỉ thôi. Sản phẩm không mang lại giá trị thật cho người sử dụng mà lại làm người sử dụng phát mệt thì chắc rồi cũng sẽ han rỉ.

————————————————————

Không dám bàn về chuyện bong bóng sẽ diễn ra như thế nào, cũng không muốn bàn vì mình cũng là người trong ngành. Thế nhưng, nếu bạn không to, không khỏe bằng Facebook thì cũng nên xem lại các dấu hiệu đã từng có khi bong bóng dot-com xảy ra và tự so sánh tình trạng hiện tại của mình với các dấu hiệu đó. Rồi thì hãy chuẩn bị bút viết để điền vào tấm business card trống mà CJ Chilvers đã gợi ý. Khi chẳng may bong bóng có vỡ, lúc ấy đỡ phải in lại card-visit và chức danh của mình  :mrgreen: . Dù sao thì phát ra một tấm card tự tay viết cũng khó hơn là ấn vào nút Add friend chứ. Và nếu không thích phát card, bạn có thể đưa biz card trắng trơn ra và bảo, haiz, tôi để quên card ở nhà rồi. Như thế có phải là giống hơn với việc ngụp lặn vô danh trên Forum hay không?

Buyology – cuộc chơi của tiềm thức

Mua cuốn Buy.ology trước Tết và hy vọng trong Tết sẽ đọc xong cuốn này. Có thể nói đây là một trong những cuốn sách đã mong chờ từ rất lâu nhưng cuối cùng Tết mải đi chơi quá nên mãi hết tháng Giêng âm lịch mới đọc xong. Một trong những lý do mà mình đọc chậm cuốn này là việc tác giả viết hơi dài dòng, đôi khi lan man về kinh nghiệm của bản thân quá nhiều. Người đọc ích kỷ như mình có cần biết về ông ý đã làm được gì đâu (nhất là nó không giúp ích cho mình) mà chỉ quan tâm tới kiến thức mà tác giả sẽ mang lại. Một số chương trong cuốn sách cũng khá ngắn và chưng hửng.

Không chỉ ở tại Việt Nam mà trên thế giới cũng đang khủng hoảng về quảng cáo. Quảng cáo rất hay, rất sáng tạo, sản phẩm có chất lượng tốt nhưng cuối cùng lại ít người mua. Ở Mỹ hàng năm có 80% sản phẩm mới tung ra bị fail, ở Nhật là trên 95%. Sự thành công của quảng cáo giờ đây trở nên rất hên xui và dẫn tới việc quảng cáo sau copy lại mô hình của quảng cáo (đã thành công) trước. Tác giả cùng các nhà khoa học đã sử dụng công nghệ cao để khám phá tiềm thức của con người trong việc tại lý do tại sao họ lại mua hàng.

Cuốn sách này khá ấn tượng và chắc chắn sẽ là một đòn giáng mạnh vào ngành công nghệ quảng cáo từ trước tới nay. Nó cũng phủ nhận sự nỗ lực của các công ty nghiên cứu thị trường.  Nếu thành công, cuốn sách này có thể làm cho ngành công nghệ quảng cáo rơi vào một trình trạng hoang mang khác bởi họ không biết phải bấu víu vào đâu.

Một vài điểm thú vị mà người đọc có thể tìm thấy trong cuốn sách :

  • Quảng cáo về tác hại của thuốc lá trên vỏ bao thuốc lá, trên TV chỉ khiến người nghiện thuốc lá nghiện thêm mà thôi.
  • Có 3 nhà tài trợ chính cho American Idol là Coca Cola, Cigular Wireless và Ford. Trong khi hai nhãn hàng kia sử dụng các hình thức gắn với cuộc thi (nhắn tin qua Cingular, giám khảo uống Coca, sử dụng theme màu đỏ …) thì Ford bỏ 26B USD cho các spot 30s. Nghiên cứu cho thấy 26B của Ford … gần như không mang lại kết quả gì.
  • Thương hiệu nên được xây dựng như một tôn giáo bởi các nghiên cứu khoa học về tiềm thức chỉ ra rằng não bộ có phản ứng với các thương hiệu mạnh y hệt như với tôn giáo.
  • Đừng nghĩ logo là tất cả. Hệ thống nhận dạng thương hiệu của bạn nên đi kèm màu sắc với âm thanh, mùi vị … (đó cũng là điều tại sao tôi không bỏ đọc sách in được vì mùi giấy và chất liệu giấy in làm tôi mê mẩn và có cảm giác hơn nhiều so với một cục iPad hay Kindle lạnh ngắt).
  • Sex trong quảng cáo không có tác dụng như bạn tưởng tượng. Cho dù 1/5 quảng cáo hiện nay có dính tới yếu tố tình dục thì chỉ có 9.8% đàn ông và 10.85% phụ nữ là nhớ tới thương hiệu sau khi xem quảng cáo có dính tới sex. Với các quảng cáo không có sex, có tới 20% đàn ông và 22.3% phụ nữ nhớ tới thương hiệu.

Với hai thiết bị hiện đại (fMRI và SST), tác giả chỉ ra cho người đọc một cách tiếp cận mới, sâu hơn với tiềm thức của con người. Buy.ology cũng chỉ ra cho chúng ta biết tại sao quảng cáo của chúng ta lại phát nổ phát xịt. Có điều, tôi chưa thể hài lòng với Buy.ology như các cuốn sách khác vì ngoài việc nói rằng tôi đã sai, nó không đưa ra cho tôi cách giải làm thế nào để làm đúng ngoài việc sử dụng hai cỗ máy đắt tiền là fMRI và SST. Quảng cáo vẫn chỉ dành cho người có nhiều tiền, phải vậy không?

Mindmap lại cuốn này sơ lược để mọi người tham khảo qua : Click đây để load.

Vietguys PS – bước khởi đầu trái chiều

Vietguys PS là một trong những trang web đập vào mắt tôi từ cách đây khoảng 2 tuần. Lúc đó có một vài suy nghĩ thoáng qua rồi lại tắt ngúm vì vẫn không muốn nghĩ tới Mobile Commerce. Nhưng rồi, những suy nghĩ này đã thực sự được nghĩ thấu đáo hơn khi được đồng nghiệp hỏi.

Vậy điều gì đập vào mắt tôi? Đó là điều mà Vietguys PS đang đăng tải trên trang web của mình :

Đã đến lúc được tặng tiền cho việc bạn đọc tin nhắn! Không chỉ thế, người khác đọc bạn cũng được tặng?!!

 

Đây là một mô hình mà tôi và các đồng nghiệp đã suy nghĩ bàn luận rất nhiều khi còn làm chung tại M-Commerce/VDC. Tuy vậy, chúng tôi không thể đưa ra được một lời giải tối ưu cho bài toán này và đã không thực hiện được. Vì sao lại không, xin phân tích ở ngay dưới đây. [Read more...]

Điều gì khiến cho một chiến dịch quảng cáo có thể đủ hấp dẫn để được truyền miệng?

Viral Marketing

Trong bài viết cùng tên, Tom Hespos đã cho rằng để một chiến dịch quảng cáo có thể đủ hấp dẫn để được truyền miệng là cả một việc khó khăn. Tom đã cố gắng để liệt kê ra một vài điểm có thể giúp cho chiến dịch quảng cáo của bạn được đám đông hỗn độn ngoài kia chú ý. [Read more...]