7 điều mà Social Media không thể giúp bạn

Tóm tắt lại bài viết mang tên “7 things social media can’t do” của Denise Zimmerman.

1.Social Media không thể thay thế cho chiến lược Marketing được

Tất cả những con số và công cụ hoành tráng đều chẳng có ý nghĩa gì khi nó không mang lại giá trị thực sự cho nhãn hàng của bạn. Đừng để bị rơi vào cái gọi là “click-through syndrome”, đừng để các con số lừa phỉnh mình. Có account Twitter, có Facebook Fan Page, có nhiều fan… cũng chẳng có ý nghĩa gì khi các fan đó chẳng tương tác với mình. Bạn phải là người làm chủ Social Media chứ không phải để Social Media làm chủ bạn.

2.Social Media không thể thành công nếu bạn không chú tâm vào đó

Chẳng ai muốn nói chuyện với một người bán hàng không tập trung vào mình. Social Media đòi hỏi bạn phải bỏ công sức rất lớn để lắng nghe và tương tác.

3.Social Media không phải là cuộc chơi ngắn ngày

Không ai muốn làm bạn trong 1 tuần, 1 tháng hay một khoảng thời gian ngắn ngày nào đó. Thuê agency, giao tiếp hoành tráng với khách hàng rồi lặn tăm sau 1 tháng, bạn chẳng khác gì một chàng Don Juan cả. Mà thời nay, các cô gái của Don Juan có đầy đủ mọi phương tiện để giao tiếp và cảnh báo cho nhau về bạn nếu bạn xấu xa với họ, vì vậy hãy đừng tự phá đi các mối quan hệ mà mình dày công xây dựng.

4.Social Media không thể thực hiện tốt nếu không có sự hỗ trợ của cả tổ chức

Một vị tướng tài sẽ chẳng là gì nếu không có quân đội trợ giúp, một lãnh đạo giỏi sẽ khó thành công nếu không có những cộng sự đắc lực để triển khai những ý tưởng của mình. Cứ tưởng tượng bạn đứng giữa khách hàng và công ty, khách hàng thì đặt ra hàng loạt câu hỏi còn bạn không có sự hỗ trợ của các phòng ban trong công ty, liệu bạn có thể làm gì được không? Bạn có chắc chắn rằng những thông tin bạn chia sẻ cho khách hàng không phải là bí mât của công ty hay không? Vì vậy, bạn cần phải được tự do 100% (nhưng) trong khuôn khổ những gì bạn được tự do, và điều này thì cần có sự hỗ trợ của tổ chức.

5.Social Media không thể thay thế cho chất lượng sản phẩm/dịch vụ của bạn

Hãy quên đi những phép màu mà người bán hàng có thể làm cho bạn. Đừng tưởng bở rằng cứ sản xuất ra một mặt hàng tầm tầm và bạn sẽ có thể trở thành triệu phú trong vài ngày. Hãy coi Social Media như một cái kính lúp, nếu sản phẩm tốt nó sẽ phóng to được điểm tốt đó ra, nếu sản phẩm tệ thì *&*(&(&()&(&(

6.Social Media không thể thay thế cho Digital Marketing

Sử dụng Social Media một cách điên cuồng/cuồng nhiệt không có nghĩa rằng bạn sẽ chắc chắn trở thành một người làm marketing. Những kiến thức về marketing cổ điển vẫn rất quan trọng và bạn chỉ có thể thành công khi áp dụng nhuần nhuyễn Social Media cùng với các kênh khác trong chiến lược marketing của bạn.

7.Social Media không thể thành công nếu bạn không đầu tư

Tiền, thời gian và nhân lực. Ba yếu tố có giới hạn mà bạn phải cân nhắc cho mọi hành động của bạn. Social Media có thể tốn ít tiền hơn, nhưng sẽ mất nhiều thời gian và nhân lực của bạn hơn. Do vậy, nếu bạn không đầu tư tiền thì không có nghĩa rằng bạn sẽ không phải đầu tư thời gian vào đó. Còn nếu bạn không đầu tư gì cả mà vẫn thành công thì có lẽ bạn là một trong số hiếm những người may mắn trên Trái Đất này!

Can we stop screwing?

Greg Verdino wrote an article today named “Will we finally stop screwing around with social in 2010?“. In his article, you can find a free interesting ebook (exactly a collection of predictions about marketing, social media…). Greg had one prediction there : “In 2010, marketers will (have to) stop just messing around and actually get serious about social media.

————

I totally agree with Greg’s point :”welcome to 2010: the year social media gets down to business“. One visible example : Pepsi is going to skip Super Bowl Ads  in Favor of $20M Social Media Campaign. (F.Y.I : Super Bowl Ads likes the Golden Hours Ads in VTV or other Vietnamese TV channels). But I don’t agree with Greg. I strongly believe we are still screwing. Let’s see Seth Godin. He wrote many interesting books. If you pick a book of Seth, you can easily recognize that he always try to negate his earlier books. We talked about marketing a long time and year after year, we still talk about it. And not only Seth but sex. We do it everyday (or at least twice a week, a month…) but we still read any article appeared in Internet and complain of our performance. Why? Because basically, we human are screwer.

————

We can’t stop complain. We can’t stop screw. But we can make social media maturer. Maturer means sexier.

Sự tin tưởng…

Hôm nay, Chris Baskind đã có một bài viết khá hay với tiêu đề “The Only Workable Model for the Web is Trust“. Xin được trích dẫn nguyên văn một đoạn quan trọng nhất trong bài viết này ở đây :

The brands they will choose will be the ones they trust, and trust is the end product of a consistent and transparent relationship between producer and consumer. As Valeria wrote recently:

Trust is earned. Trust is more valuable than gold. People will pay for it. And if you’re working to earn it now, you’re already creating equity in the next economy.

So back to basics we go, whether we’re attempting to build empires or playing the role of market insurgent. The game is the same, and it’s the quality of your name.

Whatever product or service you must say grace over, there’s somebody out there with the same thing — only cheaper. But they can’t discount the trust you develop with your potential customers. In a real sense, trust is the currency of the next media economy.

——————————

Ngày hôm nay mới có thời gian ngồi đọc kỹ cuốn “Đô-la hay lá nho?” (bản dịch của cuốn Naked Economics). Trong cuốn sách này cũng nói về giá trị của thông tin và sự tin tưởng. Ngày nay, chúng ta đôi khi phòng bị với những người xung quanh từng đồng, từng hào một nhưng lại gửi cả tấn tiền vào ngân hàng cho những người mà chúng ta không quen biết. Khi chúng ta đến một nơi xa lạ, chúng ta có thể khó khăn trong việc lựa chọn các món ăn địa phương nhưng lại dễ dàng gật đầu khi bước vào một cửa hiệu KFC, McDonald hay Jolibee mà chúng ta chưa từng ăn bao giờ. Đơn giản, logo thân quen này đã cung cấp đầy đủ cho chúng ta biết thông tin về các món trong cửa hiệu, về việc nó có nhà vệ sinh hay không và thậm chí là cả việc một suất cánh gà rán sẽ có mấy chiếc cánh. Những cửa hiệu này không chỉ bán (và song song với điều đó, chúng ta không chỉ mua) sản phẩm mà còn là cả những thông tin có thể dự đoán được, có thể tin tưởng được.

——————————

Tất cả mọi thứ đều đúng đối với chiều đi từ Nhà sản xuất -> người mua hàng. Sự tin tưởng sẽ gia cố và tạo ra sự vững bền đối với các tính chất còn lại của nhãn hàng. Thế nhưng, chiều ngược lại thì sao? Liệu nhà sản xuất có tin tưởng người mua hàng được không?

“Đô-la hay lá nho” có một ví dụ rất hay về việc này. Đó là ví dụ của người bán bảo hiểm và người mua bảo hiểm. Người mua bảo hiểm luôn có nhiều thông tin về sức khỏe của mình nhiều hơn là người bán bảo hiểm. Thông thường, ngành bảo hiểm hoạt động dựa trên việc xác định chi phí bảo hiểm trung bình trên tất cả những người mua bảo hiểm và tính phí bảo hiểm cao hơn một chút so với chi phí trung bình này. Tuy vậy, chi phí này chỉ thực sự đúng khi thông tin người mua bảo hiểm cung cấp cho người bán bảo hiểm là chính xác tuyệt đối. Nếu bạn cung cấp thông tin chính xác thì chi phí bảo hiểm có thể tăng vọt và thậm chí là chả ai muốn bán bảo hiểm cho bạn nếu bạn đang bị một chứng bệnh khó chữa. Do vậy người mua bảo hiểm thường sẽ không khai chính xác thông tin về sức khỏe của mình (chưa tính tới việc họ vô tình khai không chính xác vì khi nói tới bệnh tật ai cũng muốn nói nhẹ hơn). Khi thông tin thu được không chính xác, người bán bảo hiểm sẽ phải điều chỉnh bằng cách tăng giá để không bị lỗ. Việc tăng giá này khiến cho những người khỏe nhất trong số những người ốm thấy rằng đây là một mức giá bất lợi (vì thấy rằng họ phải trả cao hơn mức họ được hưởng) và sẽ dừng không mua bảo hiểm nữa. Khi đó, số lượng người ốm nặng tăng lên (rủi ro cho hãng bảo hiểm tăng) và chi phí bảo hiểm lại tiếp tục tăng. Cuộc rượt đuổi về thông tin cứ diễn ra cho tới khi thị trường bảo hiểm không chịu nổi nữa và … giải tán.

Do vậy, ở đây sẽ có hai giải pháp để tránh việc thị trường bảo hiểm phải giải tán. Cách thứ nhất : không bán cho cá nhân mà bán cho cả một tổ chức (ví dụ một công ty). Điều này cho giúp cho rủi ro được giảm bớt vì sức khỏe của những người trong công ty là không đồng đều, trừ phi công ty này sản xuất thứ gì đó có hại cho sức khỏe của công nhân. Cách thứ hai : cho cá nhân tự chọn mức bảo hiểm. Nếu anh tin rằng 10 năm nữa mới bệnh, tôi sẽ bán cho anh với giá là 1 đơn vị. Nếu anh nghĩ rằng 5 năm nữa anh đã bệnh rồi, tôi sẽ bán cho anh với giá là 2 đơn vị (con số này chỉ là ví dụ). Đây là một dạng khôn khéo để lấy thông tin của người mua bảo hiểm.

Rõ ràng, người mua bảo hiểm có lợi thế bởi họ không cần phải cung cấp thông tin đúng cho người bán bảo hiểm. Trong khi đó, các nhãn (bao gồm cả bảo hiểm) muốn tồn tại được thì ngày càng phải cung cấp những thông tin đúng và giữ vững sự tin tưởng của khách hàng.

Câu hỏi ở đây : nếu người bán bảo hiểm sử dụng Social Media để biết được thông tin của người mua bảo hiểm thì sao? Nếu họ nói rằng, tôi không thể bán bảo hiểm cho anh với mức là 1 đơn vị bởi vì trong 5 tháng gần đây, anh đã kêu ốm trên Facebook tới 10 lần thì sao?

Câu hỏi tiếp : sự minh bạch của thông tin lúc đó có còn không? Nếu không phải chỉ bảo hiểm mà là các thông tin khác bạn đang chia sẻ để xây dựng một hình ảnh được người khác tin tưởng cũng sẽ bị khai thác để tạo nên những điều bất lợi cho bạn, bạn có chia sẻ nữa không?

Thấy gì từ các con số thống kê về Social Media tại Trung Quốc?

Xem xong slide này thấy có nhiều cái khá hay.

  • Xét về demographic thì số lượng người sử dụng Internet ở TQ có gần 3/4 (71.7%) là sống ở thành phố (ảnh hưởng về tốc độ truy cập?) nhưng có tới 72.4% trên tổng số người này (cả thành phố lẫn nông thôn) là có thu nhập dưới 2000 NDT/tháng (~290 USD) trong khi bình quân thu nhập đầu người của Trung Quốc là 1740 USD/năm. 31.7% là sinh viên, 7.4% là thất nghiệp và chỉ có 12.4% là đã tốt nghiệp đại học hoặc cao hơn.
  • 46% truy cập Internet qua Mobile (!!!, quá kinh, cái này một phần có lẽ do điện thoại TQ làm dởm quá rẻ nên bà con dùng nhiều điện thoại màn hình rộng chăng?) và 35.5% truy cập Internet ở quán cf.
  • Có 3 nhu cầu chính là Entertainment, Information và Communication. Nhu cầu về giao dịch đứng thứ 4 và chỉ chiếm khoảng 1/4 tỷ trọng so với các nhu cầu phía trên chiếm từ 1/2 -> 3/4 tỷ trọng. Blog thịnh hơn Forum.
  • Blog, Forum và SNS là ba nhân tố chính của SM China. Blog được Update ít hơn Forum. Trung bình mỗi người trên mạng xã hội có 2.8 account. Điều này là dễ giải thích bởi 27.4% người sử dụng log vào chỉ để chơi game (chắc VN cũng thế quá :D ). Có tới 15 triệu nhân viên văn phòng ở các thành phố lớn (chiếm khoảng 5% tổng số Internet users) là chơi HappyFarm hơn 5 giờ/ngày(!).
  • Online video thịnh nhưng chỉ có 30% là UGC, còn lại là film không bản quyền (mình thấy 30% cũng là nhiều đấy chứ!)
  • Tỷ lệ Creator và Critic là nhiều hơn hẳn so với Mỹ. Cái này cũng giống như các nước châu Á khác khi mà Blog và Forum thịnh hành. Mức độ participate cũng nhiều hơn bởi sự mâu thuẫn giữa đạo Khổng và xã hội hiện đại dẫn tới việc môi trường online là một môi trường tốt để thể hiện cái tôi mà không sợ bị xã hội đánh giá.
  • Tỷ lệ ảnh hưởng trong việc mua hàng cũng khá cao (lưu ý là tỷ lệ này chỉ cao đối với những người đã truy cập Internet). Kể cả không mua hàng thì 90% số người được hỏi vẫn chú ý tới các bình luận trên mạng.
  • 5 ví dụ cho việc thành công khi sử dụng SM ở Trung Quốc :
    • Lancome : tự tạo SNS, tạo nhóm (Group) ở trên Kaixin001 (SNS) và tổ chức online contest. Lancome sử dụng khá tốt việc kết hợp kênh cũ để boost cho kênh mới thông qua các ví dụ (dùng kênh cũ để quảng cáo cho SNS của Lancome, dùng Group trên Kaixin001 và dùng online contest.
    • Apple : Tạo nhóm trên Xiaonei (đã đổi tên thành Renren – FB Clone). Apple làm được các điều sau :
      • Design tốt để người ta vào đó thấy được đúng chất Apple
      • Humanize các nhãn hàng và quản lý trực tiếp các thông tin qua các account nhãn hàng được humanize này
      • Sử dụng Lucky Draw (một cách cũ) và tiếp theo là khuyến khích UGC bằng chiến dịch iPod Spotter. Nếu để ý sẽ thấy rằng thực ra quà rất nhỏ (chỉ có 4 cái iPod)
      • Free Internet (qua Wifi) ở Thượng Hải và Bắc Kinh (cái này chắc làm ở VN thì khó vì ở VN Wifi nhan nhản)
      • Sử dụng hình ảnh sẵn có trên thế giới để tạo engage và interact (cái này rất quan trọng!)
    • BMW : BMW tạo ra mạng xã hội của riêng mình để gom 150.000 người đang sử dụng xe tại TQ. Case này mình thấy có hai chú ý như sau :
      • Những người thu nhập cao chưa chắc đã vào Internet (xem phần trên)
      • BMW tạo mạng xã hội riêng chứ không tạo group/fan page có phần đúng khi đối tượng sử dụng BMW là niche và có tâm lý không muốn trộn lẫn với số đông còn lại
    • Sony : Sony đã đưa TV lên trên Internet theo đúng nghĩa của câu này. Thông qua “Sufei’s Dỉary”, một series 40 tập được chiếu trên mạng & tại một số màn hình ở các nhà ga là một trong những cách làm crowdsourcing khá tốt. Sau mỗi tập được chiếu luôn là các poll để xem tập tiếp theo Sufei nên xử lý tình huống như thế nào và khá nhiều lần những poll này đã thực sự có ảnh hưởng tới film. Đó có lẽ là điều mà “Lập trình trái tim” đã không/chưa làm được.
    • Rượu vang Chile : Một campaign mà Du lịch cũng như là các ngành nghề ăn uống, dệt may … thực sự nên nghiên cứu. Chia làm 3 phase rõ rệt, từng bước chiến dịch này đưa người Trung Quốc tới gần với rượu vang Chile hơn (có nghĩa là phải xa với văn hóa rượu nội địa hơn). Từng phase ở dưới đây sẽ được thực hiện bằng cách gửi rượu cho các blogger nhấm nháp và đưa ra ý kiến của mình, sau đó để mọi người vote xem ai là người viết review hay nhất.
      • I Love Wines
      • I Love Chilean Wines
      • I Love Chile
  • Một vài ví dụ cho các campaign không thành công ở Trung Quốc :
    • Levono : Truy tìm cô gái có chiếc laptop đỏ. Campaign này được đánh giá là fail ngay trên sân nhà bởi tính chất không thực của nó. Truy tìm nhưng thực sự không có cô gái này mà chỉ là các bạn tự chụp ảnh để fake. “Tìm em nơi đâu”, “Giải cứu Mai Phương Thúy với Nokia”, “Mua bán Mai Phương Thúy”… có thể nhìn thấy nhiều điểm giống với campaign này.
    • Carefour : Liên quan tới việc Pháp đưa ra thông điệp sẽ không ủng hộ Olimpic Beijing nếu Trung Quốc không nói chuyện với người đứng đầu của Tibet. Đầy mầu sắc chính trị!!!

Rõ ràng, cùng với việc nghiên cứu cụ thể về khách hàng sử dụng Internet và Technographic, các nhãn hàng khác nhau (từ food cho tới xe hơi loại sang) đều có thể hưởng lợi từ việc sử dụng Social Media đúng cách.

2009-11-17_1359

Update 1 : Thêm cái article này cũng hay hay (click vô để phóng to lên nhé).

Chinese Youth Media Diet Focuses on TV and Internet

Rốt cuộc thì Social Media là cái của khỉ gì?

Khó nói nhỉ. Hét lên một tiếng tức tối như thế bởi thấy định nghĩa trên Wikipedia thay đổi liên tục.

Năm 2007, Wikipedia định nghĩa như thế này (xem tại PR 2.0):

Social Media - Wikipedia - 2007Năm 2008 và nửa đầu năm 2009, Wikipedia định nghĩa như thế này (“Social Media in Haiku’s way“):

Social Media - Wikipedia - 2008

Hiện tại, Social Media được định nghĩa như thế này (xem tại Wikipedia) :

Social Media - Wikipedia - 2009

Định nghĩa năm 2007 theo võ đoán là còn ảnh hưởng nhiều của Web 2.0, định nghĩa năm 2008 là một định nghĩa làm cho bản thân tôi cứ quẩn quanh mãi bởi khi Social Media được raise lên thì UGC tự nhiên thấy biến mất. Định nghĩa mới nhất là định nghĩa dễ hiểu nhất đối với tôi. Đơn giản là media thì phải là media, thêm chữ social thì có nghĩa là có tính social cao. Đến bao giờ thì định nghĩa này lại thay đổi tiếp?

Social Media in Brand Manager’s view – 1

Hôm nọ mới nhờ bạn bè gửi câu hỏi đi để phỏng vấn các anh chị làm quản lý nhãn ở Việt Nam về Social Media để tiếp tục điền thông tin vào Wiki của SocialMediaVietnam.  Hôm qua mừng húm đã nhận được bài trả lời đầu tiên từ một BM làm trong ngành Food & Beverage (Xin được ko nêu tên và công ty trong loạt bài phỏng vấn này. Thiết nghĩ lấy được cái insight là đủ, tên tuổi hay công ty dù có to hay bé cũng sẽ gây ra những bàn tán không chính xác và không cần thiết).

——-

1.Bạn có nghe tới khái niệm Social Media chưa? Nếu có thì bạn có thể kể ra 3 cái tên liên quan tới SM được không? Nếu câu trả lời là không nghe bao giờ, vậy bạn đã nghe tới Facebook, MySpace hay Twitter bao giờ chưa?

Rồi: Facebook, Multiply, and Yahoo 360
2.Những điều bạn được nghe/giới thiệu về Social Media đã được các Agency giới thiệu một cách chính thức/đi dự hội thảo nghe giới thiệu hay là do bạn tự tìm hiểu và tự sử dụng ?

Chủ yếu là do tự tìm hiểu và tự sử dụng
3.SM cung cấp khả năng đối thoại hai chiều trong khi Marketing truyền thống chỉ đưa ra các thông điệp 1 chiều. Bạn nghĩ rằng kết luận này đúng hay sai?

Đúng


4.Theo bạn, những kiến thức Marketing truyền thống khi áp dụng vào môi trường mới có tính tương tác cao như Internet và SM liệu còn có đúng hay không?

Đúng, vẫn phải dựa trên những yếu tố cơ bản, và cộng thêm những yếu tố riêng biệt của môi trường Internet.


5.Nếu bạn đã có nhận thức về SM, bạn có ý định sử dụng nó trong chiến dịch Marketing của bạn không? Bạn mong muốn điều gì khi sử dụng SM?

Việc sử dụng hay không còn phụ thuộc nhiều yếu tố khác (như có phù hợp với brand không, target consumer, etc) và đương nhiên mong muốn về media benefit tính ra ROI phải effective hơn other channels.

6.SM và Internet đang phát triển rầm rộ ở VN. Bạn có nghĩ rằng SM Mkt và Online Mkt sẽ phát triển trong thời gian gần không?

Sure
7.Việc áp dụng các kênh mới có thể sẽ dẫn tới việc thay đổi nhận thức của cả một hệ thống. Bạn có sẵn lòng thuyết phục mọi người xung quanh về xu hướng không thể cưỡng lại của Online Mkt và SM Mkt không? Hay bạn sẽ chờ khi người khác làm xong rồi bạn mới làm?

Sẵn sang thuyết phục cùng với sự chuẩn bị về fact & figure, study, etc.

8.Nếu nói ROI của SM không thể tính trực tiếp bằng tiền được nhưng sẽ giúp cho bạn “nghe” và “đối thoại” với khách hàng một cách tốt hơn hẳn cách làm truyền thống, bạn vẫn sẽ sẵn sàng sử dụng SM chứ?

Không hẳn phải là ROI, nhưng phải có measurable KPIs.

——-

Rất thực tế và cũng rất update, phải không?

Update 1 : #5,#7,#8 là những câu làm mình suy nghĩ rất nhiều.

Tại sao Social Media lại phải có ROI?

Nhảm sau khi đọc xong bài này : “Why Measure ROI of Social Media?“. Đơn giản thôi, nó phải có ROI bởi vì nếu nó ko có ROI, mọi thứ đều diễn ra một cách tự phát và tản mát. Điều này sẽ dẫn tới không ai trả tiền cho một môi trường tự phát và tản mát như vậy.

Trouble của Social Media ROI là đang coi nó như một môi trường Marketing chứ không phải môi trường truyền thông có tính xã hội cao. Mà Marketing là bỏ tiền ra để phục vụ tối ưu hóa thỏa mãn một nhu cầu gì đó và thu lại được lợi nhuận nhiều nhất. Túm lại là phải trả tiền và phải đo đếm được kết quả. Nếu không có ROI, một người làm Social Media sẽ chẳng thể nào được thưởng, chẳng thể nào được tăng lương hay thậm chí là khó chứng minh được kết quả mình làm bởi mọi thứ đều chỉ “có vẻ” thế này thế kia chứ không có một con số cụ thể chứng minh được là anh ta đóng góp thực sự bao nhiêu. Ngày hôm nay đẹp trời thì mấy vị trên Twitter, Facebook có thể nói tốt về sản phẩm của anh, nhưng ngày hôm sau con họ ốm, họ bị sếp mắng, họ bị bồ đá… chắc gì họ đã không choảng cho anh và sản phẩm của anh vài phát. Mà nếu không có tiền như thế, thì chẳng ai lại muốn làm một cách chuyên nghiệp làm gì!.

Nhảm vòng tiếp sang bài này : “An Expert with no Experience“.  Bài này viết quá xuất sắc rồi nên mình chẳng còn dám nói gì nữa, post ra đây đoạn mình thích nhất.

2009-09-03_1304Tựu trung lại là, Social Media Marketing chuyên nghiệp cần phải có ROI để đánh giá, còn ROI thế nào và đánh giá thế nào thì chưa biết. Giờ chưa có ROI thì cứ đành phải tin vào hoa hồng, kiếm một ông sếp nào đó cũng tin vào hoa hồng để có thể bơm cho ít tiền và luyện tập cần cù, trải nghiệm thật nhiều, làm tới làm lui chứ đừng có ngồi mà chém như thánh, nghĩ rằng mình manipulate được vài trăm followers của mình là manipulate được cả thiên hạ.

Update 1 : bài này “The Danger of Social Media for Ad Agencies?” cũng khá hay. Phải chăng chính bởi vì ROI không rõ ràng nên các Ad Agencies còn ơ hờ?

Social Media là quá trình tiêu dùng ngay từ khâu sản xuất?

Đó là một điểm nhấn của anh Trương Trí Vĩnh trong hội thảo Social Media Conference 2009 vừa diễn ra tại HN sáng thứ 7 vừa rồi. Đây là điểm làm tôi suy nghĩ nhiều nhất, bởi nó đúng. Đúng lắm trong nhiều trường hợp. Nhưng nó không thuyết phục tôi.

Vậy hãy xét một vài ví dụ xem nó đúng như thế nào nhé :

  • Khi bạn vào Sannhac để hát, việc đầu tiên bạn hát là để sướng cho bản thân mình đã. Ngay lúc bạn hát thì bạn đã sướng rồi, hay dở sao cũng là sướng. Như vậy cái sự sung sướng được tiêu dùng ngay từ khâu sản xuất. <- Câu hỏi : Vậy thì sao bạn không hát trong phòng tắm mà phải vào Sannhac để hát? Hát ở đó sướng bỏ xừ, không thì tự thu mà nghe?
  • Khi bạn là nhà báo chính quy đang làm cho một tờ báo giấy, bạn viết ra một bài báo về một chủ đề hot mà bạn đã dày công nghiên cứu suốt 2 tháng (tỉ như là phá án ma túy ngay giữa lòng thành phố lớn). Thế nhưng, bài đấy in ra chỏng chơ không hiểu vì sao chẳng ai đọc cả. Bạn hụt hẫng, bạn không có niềm vui của muôn triệu độc giả. Bạn viết không phải vì bạn, mà bạn viết vì độc giả của bạn, mà người ta lại chẳng đọc, thế là bạn chả sướng rồi. <- Câu hỏi : Vậy ở đâu là tiếng gọi bên trong bạn khi bạn mới bắt đầu phá án? Đâu thực sự là lòng yêu nghề? Sau khi bạn chết đi, tự nhiên bài báo/tác phẩm của bạn trở nên nổi tiếng, lúc đó bạn còn trên đời để … sướng không?
  • Vào Twitter, tự nhiên thấy một bài hay. Thế là retweet. RT có ích lợi gì cho bạn không? Không. Chỉ là vì tôi đọc được bài hay, tôi sướng quá, tôi phải RT để bà con cùng đọc với tôi. Thế là tiêu dùng ngay từ lúc sản xuất. <- Câu hỏi : Bạn có sản xuất bài viết đấy không nhỉ? Không. Nhưng bạn sản xuất ra cái twit đó, và bạn đóng góp vào sự phát triển của Twitter qua cái RT đó.

Tôi cố gắng đưa ra 3 ví dụ, mặc dù hơi khiên cưỡng để xét lại câu kết luận trên. Câu đó đúng, đúng trong khá nhiều trường hợp và ngữ cảnh khi chúng ta biết rõ chúng ta sản xuất cái gì, tiêu dùng cái gì. Trong ví dụ Sannhac, tôi sản xuất ra bài hát, và tôi tiêu dùng sự “sướng” khi sản xuất ra bài hát đó (chứ ko phải tôi tiêu dùng chính bài hát đó). Thế nhưng, tôi tiếp tục cái sự tiêu dùng sự “sướng” khi có ai đó khen tôi, có ai đó chê tôi và chỉ ra chỗ yếu trong giọng hát của tôi, có ai đó hát lại cho tôi nghe. Nói cách khác, quá trình tiêu dùng không chỉ ở trong khâu sản xuất mà vẫn còn tiếp diễn “phức tạp” ở phía sau.

Trong ví dụ báo chí truyền thống, tôi cố gắng biện minh rằng, cái anh viết bài, anh ý cũng tiêu dùng cái sự sung sướng của anh ý ở trong lúc lao động đấy chứ. Khá nhiều các tác phẩm kinh điển được ra đời và được người đời đương thời … ném đá thôi rồi, thế nhưng qua thời gian thì lại trở nên nổi tiếng. Thế nên anh viết bài, anh ý mà không sướng, anh ý mà chỉ mong chờ vui cái niềm vui của thiên hạ hoặc là vui việc mai BBT trả lương thì e rằng hơi khiên cưỡng.

Ví dụ thứ 3 với Twitter là một ví dụ cho thấy nhìn từ các chiều khác nhau thì khâu sản xuất và quá trình tiêu dùng có thể khác nhau. Do vậy, có lẽ ở đây anh Vĩnh đã đưa ra một cái bẫy cho độc giả khi kết luận ngắn gọn như vậy. Cũng có thể, tôi đang nằm trong cái bẫy đó với việc cố gắng diễn giải nhận định này :D .

Xem film miễn phí (của mình vứt đi là của quý với người khác)

Đây là bài thứ 2 nằm trong loạt bài về chủ đề “Social Media – Giá của sự miễn phí“. Xin xem bài thứ nhất nói về Dell Outlet tại đây.

—————-

My flatmate's works

Bài viết này nói về một ý tưởng từ cách đây 3 năm khi mình còn lại Mobile Commerce – VDC, đã propose cho MegaStar và đã bị reject. Bị reject có thể có rất nhiều lý do, ý tưởng chuối cho tới việc ko khả thi với hệ thống… Mình sẽ viết lại ý tưởng này và expand nó ra một chút với Social Media.

Cách đây 3 năm, mình chưa được đọc chút nào về “Chiến lược Cho” của Mikkaa, tuy vậy đã mường tượng trong đầu rằng có những ngày/có những buổi/có những phòng mà MegaStar rất ít khách, đồng nghĩa với việc vẫn còn rất nhiều chỗ trống. Vậy tại sao MegaStar không đem những chỗ trống này cho đi miễn phí? Việc cho đi này không có hại bởi các lý do sau [Read more...]

Dell Outlet – Đầu tiên vẫn cứ phải là tiền

Mình dự tính sẽ viết một vài bài với chủ đề “Social Media – Giá của sự miễn phí“. Loạt bài này sẽ chú trọng vào việc phân tích các case thành công của Social Media và chỉ ra rằng, giá của sự miễn phí không rẻ chút nào. Đồng thời, mình cũng hy vọng rằng bản thân mình và mọi người có một cái nhìn “công bằng” hơn với Social Media, không coi nó là “chiếc đũa thần” nhưng cũng đừng coi nó chỉ là một trò nhảm. Cái gì cũng có giá trị của nó nếu được đặt đúng chỗ. Hãy ủng hộ mình bằng cách chỉ ra những case có cùng quan điểm của mình và tốt hơn nữa là những case cho thấy kết luận của mình là sai lầm. Không chém gió, nếu chém cũng phải đi từ thực tế! Bingo.

—————————–

Trong khi các bạn khác vẫn còn đang đau đầu vì sử dụng Social Media như thế nào cho hiệu quả thì ngày 12/6 vừa qua, Dell Outlet đã công bố vượt qua mức doanh thu 2 triệu USD chỉ thông qua việc quảng bá và bán hàng trên Twitter.

Dell đã bắt đầu sử dụng Twitter cho Dell Outlet vào tháng 6 năm 2007 và sau đó đã áp dụng chiến lược sử dụng Twit như công cụ để quảng bá về các exclusive offer của mình, đặc biệt là về các mặt hàng refurbished (các mặt hàng bị khách hàng trả lại và sau đó được nhà sản xuất sửa lỗi để bán tiếp).

twitter-xps-dealdell-twitter-offer

Chỉ trong vòng 3 tháng, Dell Outlet đã “tuyển” (recruit) được hơn 500.000 users follow mình và trở thành một trong 20 account có số lượng người follow nhiều nhất (theo TwitterCounter).

7331_4000_delloutlet-twitter-sales

Dell đã phát huy thành tích của mình với các account Twitter khác như @DellHomeOffers hay @DellSmBizOffers (mở rộng về đối tượng khách hàng theo nhu cầu) và @DellHomeSalesAu hay @Ofertas_Dell_MX (mở rộng về đối tượng khách hàng theo khu vực địa lý – Úc/Mexico…). Cho tới giờ, Dell có tới hơn 200 nhân viên thường xuyên tương tác với khách hàng của mình thông qua Twitter.

———————

Q/A cho case này :

  1. Dell có thành công không? [Read more...]