Sharing is more than caring…

Sáng nay mới có thời gian ngồi đọc bài “Thị trường Social Bookmark tại VN” của bạn @khaivq và thảo luận trên Link Hay. Bài viết có phần thống kê khá chi tiết về nút nhúng chia sẻ trên các website Việt Nam hiện nay và có lẽ là thống kê đầy đủ nhất từ trước tới nay về phần này mà mình được thấy. Nghĩ tác giả cũng không cần tặng hoa hay ném trứng thối mà cần thảo luận nhiều hơn nên viết blog để gạch ra mấy ý chính mình muốn phản hồi :

  • Có lẽ nên sử dụng Social News để thay thế cho Social Bookmarking, như vậy đúng với bản chất của các site hiện tại hơn. Mô hình Bookmark của Delicious có lẽ tới nay đã không còn phù hợp. Không chỉ đơn giản là chuyện socialize chức năng bookmark cho cá nhân mình, Social News giúp việc crowd-sourcing để tìm ra tin tức nổi bật nhất tốt hơn. Digg, Reddit, Mixx hay Linkhay đã “tiến hóa” từ Social Bookmarking Sites sang Social News. Facebook, Twitter, Zing Me xếp vào Social Bookmarking hay Social News cũng đều hơi cưỡng ép.
  • Đã không còn là chuyện bookmark cho bản thân mình mà là chuyện crowd-source thì yếu tố cộng đồng rất quan trọng và sự gắn kết trong cộng đồng lại càng quan trọng. Đính lại cái hình về Reach và Affinity ở đây. Reach cao mà Affinity kém thì cũng không ổn, nhất là để làm crowd-source. Yếu tố cộng đồng và văn hóa cộng đồng cũng giúp giải thích việc tại sao có những link share trên cộng đồng này thì được tặng hoa, share trên cộng đồng kia thì bị ném đá hoặc không được ủng hộ (như việc bạn @vietbio có than thở tại LinkHay).

Social Influence: reach vs affinity

(pix courtesy of Stefano Maggi – Under Creative Commons License)

  • Nhắc tới Làn sóng ngầm, nhớ tới Groundswell của Forrester. Càng trèo lên cao trong thang này, mức độ tương tác càng phức tạp. Đối với content ví dụ như của Baomoi.com thì đa phần vẫn là Spectator (chỉ xem, không làm gì hoặc thì thầm với nhau offline, chat, email), tiếp tới là Like (~ Spectator – tránh nghĩ rằng độc giả lười không ấn nút Like mà có thể do content không hay sao bắt người ta Like?), tiếp tới là comment hoặc share nhưng có comment riêng (~Critics + Conversationalists), cuối cùng mới là Creators – viết bài blog để đưa ý kiến của mình phản hồi lại bài báo. Chuyện đương nhiên cái gì dễ thì ai cũng làm, views là dễ nhất, like là dễ nhì, comment đã bắt đầu thấy khó rồi, share thì phải bài nào hay lắm mới share và nói lại ý trên là cũng phải hợp cộng đồng mới share, ko thì bài chả nổi lên hot, share mất công (<> bookmark là lưu lại cho bản thân).

  • So sánh chung site nào hơn site nào là tương đối khó. So sánh xem với góc nhìn của người làm marketing cho content thì site nào tốt hơn site nào sẽ dễ hơn và có thể cân đong đo đếm được hơn (tuy vậy cũng tùy xem chiến lược content của người đó ra sao, quan hệ – affinity của người đó trong cộng đồng thế nào …) Vậy nên mới có rất nhiều người nói “Content is King, Context is God” là vậy. Tuy nhiên cũng nên để ý cái thang một chút. FB nó hơn các bạn khác như Zing Me/Twitter/G+ … vì nó có cả Like lẫn Share, nôm na là nó phủ được hai bậc thang, trong khi các bạn chỉ có một bậc (để có bậc Thích/Fav ~ Like thì mình phải vào tận site nhà các bạn chứ không đính lên site nhà mình được)
  • Hồi xưa mọi người cũng hay nói, Sharing is Caring. Mình cho rằng Sharing mà giật lại title hay ho (thường hay gặp trên LinkHay) hoặc đưa ý kiến cá nhân của mình (thường hay gặp trên Twitter/Facebook) cũng là Creating, là sáng tạo thêm và mấp mé ở mức Creator rồi.
  • Vậy, kết luận nếu với góc nhìn của một Marketer, mình đương nhiên sẽ cố gắng đặt hết tất cả các nút share lên site của mình nhưng cũng quan tâm tới việc content đó hợp với site nào mà cụ thể văn hóa cộng đồng ở site đó như thế nào, làm sao để tăng affinity trong cộng đồng (còn tăng reach thì đương nhiên ai cũng cố làm rồi, nhưng reach theo kiểu tôi có Fan Page 100K thành viên nhưng tôi post cái gì lên cũng chẳng có ai phản hồi cả thì tăng cũng không được bao nhiêu hiệu quả). Đương nhiên, mình cũng chấp nhận rằng share, comment là những tương tác ở mức cao nên nếu content của mình không tốt thì dù có nhúng cả 20 nút share của các site khác nhau cũng không ăn thua gì. Mình cũng sẽ có chiến lược riêng cho từng site khác nhau, không lẫn lộn giữa Social News (giống LinkHay, tin hot thì gần như toàn thiên hạ đều nhìn thấy) và SNS (tin mình post chỉ bạn mình/fan mình thấy) và cố gắng sao nếu content được share trên cả Social News lẫn SNS thì là mừng nhất.

 

One more step to reach the heaven…

 

Finally, Forrester has the answer to Twitter. They add Conversationalists to their Social Technographic Ladder to count people who Update status on a social networking site or post update on Twitter. People who consume this update will be called Spectators. The frequency is changed too. Monthly activities to weekly update status.

Forrester - Ladder - Groundswell

My two cents is they need to change it soon. Forrester are trying to catch up the trend but in fact, update status on Twitter or Social Networking Sites is the action of Contributor too, not only Conversationalist. How about Retweet? How about Tumblr? Treat it like SNS or Twitter or blog? How about using #hashtag to collect information? Can we count them Collectors? Or both Collector and Conversationalist?

Update 1 : From Forrester’s Blog :

There are three key reasons for Interactive Marketers to care about Conversationalists:

  • 33 % of adults are Conversationalists. In other words, they represent one-third of your online target audience. (US)
  • By following Conversationalists, you get free consumer insights. Conversationalists are your customers and they are talking about you. Listen to them! <= yep, I can listen to them from forum, blog…
  • By communicating with Conversationalists, you embrace change. Interacting with your customers in an ongoing way, in a conversation, creates lasting learning on both sides. <= yep, same here. It’s not the difference.

 

Thử phân tích sự khác nhau giữa Technographics của Metro China năm 2008 và năm 2009

Technographics - Metro China -2008

Technographics - Metro China -2008

-

Technographics - Metro China - 2009

Technographics - Metro China - 2009

Gạch đầu dòng vài thứ mình có và mình có thể nhìn thấy được từ đây :

  • Số lượng Active tăng, số lượng Inactive giảm.
  • Số lượng Collector tăng gấp đôi. Số lượng Creator, Critic và Spectator có tăng nhưng không đáng kể. Joiner giữ nguyên.

Số lượng Active nói chung tăng là phù hợp với xu thế chung, với sự phát triển của Blog, Forum/BBS, SNS. Cuối năm 2008, khi Trung Quốc có 280 triệu Internet User thì đã có tới 162 triệu là Bloggers. 71% người sử dụng Internet ở Trung Quốc là sống ở thành phố (Metro?) và trung bình mỗi người có 2.8 account trên mạng xã hội. Mặc dù Facebook và Twitter bị cấm thì vẫn có tới khoảng 92% Internet User tại Trung Quốc có sử dụng các ứng dụng Social Media. Số lượng unique visitor của năm 2009 đối với BBS tăng 60% so với cùng kỳ năm 2008.

Statistics of SNS in China

Statistics of SNS in China

(đọc thêm tại Techcrunch)

Câu hỏi hóc búa nhất ở đây là tại sao trong vòng 1 năm tỷ lệ Collector lại tăng gấp đôi? Theo định nghĩa, Collector là người sử dụng RSS Feed, Tag và các website Social News để thực hiện việc sắp xếp, tổ chức nội dung theo ý của mình (và có thể sự sắp xếp này có thể ảnh hưởng tới người khác, ví dụ khi bình chọn ở Digg, Mixx…).

Cá nhân tôi phỏng đoán rằng với môi trường BBS phát triển mạnh, SNS phát triển mạnh, chính phủ có sự quan tâm đặc biệt tới nội dung trên mạng thì Social News sẽ khó phát triển. Do vậy, các ứng dụng liên quan tới việc Tagging sẽ phải có sự phát triển vượt bậc (Tag hình, video, blog – Tks vì phần gợi ý này).

Coi thử ở đây thì cũng có hai ý để tăng cường cho kết luận về Photo Tagging :

  • China SNS users are mostly interested in status and photo album updates from friends.
  • Sending messages and uploading photos are the two most popular activities on SNS.

Nghĩ tiếp, nghĩ tiếp…

—————————-

Update ngày 28 Dec :

China User Generated Content Statistic - eMarketer

Src : eMarketer.

Update ngày 29Dec2009

China Demographic

Src : The Economist

“More children would increase the dependency ratio until they were old enough to join the workforce, but reduce labour shortages in the long term.” <- and they’ll have time to contribute to Groundswell (SNS,Blog, Forum…) bcz it’s their most exciting “job”.

Thấy gì từ các con số thống kê về Social Media tại Trung Quốc?

Xem xong slide này thấy có nhiều cái khá hay.

  • Xét về demographic thì số lượng người sử dụng Internet ở TQ có gần 3/4 (71.7%) là sống ở thành phố (ảnh hưởng về tốc độ truy cập?) nhưng có tới 72.4% trên tổng số người này (cả thành phố lẫn nông thôn) là có thu nhập dưới 2000 NDT/tháng (~290 USD) trong khi bình quân thu nhập đầu người của Trung Quốc là 1740 USD/năm. 31.7% là sinh viên, 7.4% là thất nghiệp và chỉ có 12.4% là đã tốt nghiệp đại học hoặc cao hơn.
  • 46% truy cập Internet qua Mobile (!!!, quá kinh, cái này một phần có lẽ do điện thoại TQ làm dởm quá rẻ nên bà con dùng nhiều điện thoại màn hình rộng chăng?) và 35.5% truy cập Internet ở quán cf.
  • Có 3 nhu cầu chính là Entertainment, Information và Communication. Nhu cầu về giao dịch đứng thứ 4 và chỉ chiếm khoảng 1/4 tỷ trọng so với các nhu cầu phía trên chiếm từ 1/2 -> 3/4 tỷ trọng. Blog thịnh hơn Forum.
  • Blog, Forum và SNS là ba nhân tố chính của SM China. Blog được Update ít hơn Forum. Trung bình mỗi người trên mạng xã hội có 2.8 account. Điều này là dễ giải thích bởi 27.4% người sử dụng log vào chỉ để chơi game (chắc VN cũng thế quá :D ). Có tới 15 triệu nhân viên văn phòng ở các thành phố lớn (chiếm khoảng 5% tổng số Internet users) là chơi HappyFarm hơn 5 giờ/ngày(!).
  • Online video thịnh nhưng chỉ có 30% là UGC, còn lại là film không bản quyền (mình thấy 30% cũng là nhiều đấy chứ!)
  • Tỷ lệ Creator và Critic là nhiều hơn hẳn so với Mỹ. Cái này cũng giống như các nước châu Á khác khi mà Blog và Forum thịnh hành. Mức độ participate cũng nhiều hơn bởi sự mâu thuẫn giữa đạo Khổng và xã hội hiện đại dẫn tới việc môi trường online là một môi trường tốt để thể hiện cái tôi mà không sợ bị xã hội đánh giá.
  • Tỷ lệ ảnh hưởng trong việc mua hàng cũng khá cao (lưu ý là tỷ lệ này chỉ cao đối với những người đã truy cập Internet). Kể cả không mua hàng thì 90% số người được hỏi vẫn chú ý tới các bình luận trên mạng.
  • 5 ví dụ cho việc thành công khi sử dụng SM ở Trung Quốc :
    • Lancome : tự tạo SNS, tạo nhóm (Group) ở trên Kaixin001 (SNS) và tổ chức online contest. Lancome sử dụng khá tốt việc kết hợp kênh cũ để boost cho kênh mới thông qua các ví dụ (dùng kênh cũ để quảng cáo cho SNS của Lancome, dùng Group trên Kaixin001 và dùng online contest.
    • Apple : Tạo nhóm trên Xiaonei (đã đổi tên thành Renren – FB Clone). Apple làm được các điều sau :
      • Design tốt để người ta vào đó thấy được đúng chất Apple
      • Humanize các nhãn hàng và quản lý trực tiếp các thông tin qua các account nhãn hàng được humanize này
      • Sử dụng Lucky Draw (một cách cũ) và tiếp theo là khuyến khích UGC bằng chiến dịch iPod Spotter. Nếu để ý sẽ thấy rằng thực ra quà rất nhỏ (chỉ có 4 cái iPod)
      • Free Internet (qua Wifi) ở Thượng Hải và Bắc Kinh (cái này chắc làm ở VN thì khó vì ở VN Wifi nhan nhản)
      • Sử dụng hình ảnh sẵn có trên thế giới để tạo engage và interact (cái này rất quan trọng!)
    • BMW : BMW tạo ra mạng xã hội của riêng mình để gom 150.000 người đang sử dụng xe tại TQ. Case này mình thấy có hai chú ý như sau :
      • Những người thu nhập cao chưa chắc đã vào Internet (xem phần trên)
      • BMW tạo mạng xã hội riêng chứ không tạo group/fan page có phần đúng khi đối tượng sử dụng BMW là niche và có tâm lý không muốn trộn lẫn với số đông còn lại
    • Sony : Sony đã đưa TV lên trên Internet theo đúng nghĩa của câu này. Thông qua “Sufei’s Dỉary”, một series 40 tập được chiếu trên mạng & tại một số màn hình ở các nhà ga là một trong những cách làm crowdsourcing khá tốt. Sau mỗi tập được chiếu luôn là các poll để xem tập tiếp theo Sufei nên xử lý tình huống như thế nào và khá nhiều lần những poll này đã thực sự có ảnh hưởng tới film. Đó có lẽ là điều mà “Lập trình trái tim” đã không/chưa làm được.
    • Rượu vang Chile : Một campaign mà Du lịch cũng như là các ngành nghề ăn uống, dệt may … thực sự nên nghiên cứu. Chia làm 3 phase rõ rệt, từng bước chiến dịch này đưa người Trung Quốc tới gần với rượu vang Chile hơn (có nghĩa là phải xa với văn hóa rượu nội địa hơn). Từng phase ở dưới đây sẽ được thực hiện bằng cách gửi rượu cho các blogger nhấm nháp và đưa ra ý kiến của mình, sau đó để mọi người vote xem ai là người viết review hay nhất.
      • I Love Wines
      • I Love Chilean Wines
      • I Love Chile
  • Một vài ví dụ cho các campaign không thành công ở Trung Quốc :
    • Levono : Truy tìm cô gái có chiếc laptop đỏ. Campaign này được đánh giá là fail ngay trên sân nhà bởi tính chất không thực của nó. Truy tìm nhưng thực sự không có cô gái này mà chỉ là các bạn tự chụp ảnh để fake. “Tìm em nơi đâu”, “Giải cứu Mai Phương Thúy với Nokia”, “Mua bán Mai Phương Thúy”… có thể nhìn thấy nhiều điểm giống với campaign này.
    • Carefour : Liên quan tới việc Pháp đưa ra thông điệp sẽ không ủng hộ Olimpic Beijing nếu Trung Quốc không nói chuyện với người đứng đầu của Tibet. Đầy mầu sắc chính trị!!!

Rõ ràng, cùng với việc nghiên cứu cụ thể về khách hàng sử dụng Internet và Technographic, các nhãn hàng khác nhau (từ food cho tới xe hơi loại sang) đều có thể hưởng lợi từ việc sử dụng Social Media đúng cách.

2009-11-17_1359

Update 1 : Thêm cái article này cũng hay hay (click vô để phóng to lên nhé).

Chinese Youth Media Diet Focuses on TV and Internet

3 đợt sóng ảnh hưởng tới Technographic Việt Nam

Dùng chữ sóng nghe cứ như chỉ số chứng khoán :D . Các nhà nghiên cứu tại Forrester đã rất hay khi sử dụng thuật ngữ Groundswell cho sự phát triển của Web Application. Groundswell được định nghĩa một cách tổng quát hơn, tránh sự nhập nhằng biên giới giữa Web 1.0 và Web 2.0, giữa Mass Media và Social Media :

Groundswell is a trend, a spontaneous movement of people using online tools to connect, take charge of their own experience, and get what they need – information, support, ideas, products, and bargaining power – from each other.

Với cách nhìn này thì Groundswell sẽ bao gồm blog, wiki, podcast, mạng xã hội … cho tới cả forum. Nói một cách ngắn họn hơn thì :

Groundswell is a social trend which is people use technologies to get the things they need from each other instead of from companies.

Để cách công ty có thể tiếp cận Groundswell một cách hợp lý và có lợi nhất cho mình, Forrester tiếp tục đưa ra một cách tiếp cận theo hệ thống được gọi là POST (xem thêm về POST ở đây) :

post_method_2

Đối với POST, People phải được đặt lên hàng đầu. Ở đây có một câu hỏi tại sao Objective không được đặt lên hàng đầu mà lại là People? [Read more...]