Sharing is more than caring…

Sáng nay mới có thời gian ngồi đọc bài “Thị trường Social Bookmark tại VN” của bạn @khaivq và thảo luận trên Link Hay. Bài viết có phần thống kê khá chi tiết về nút nhúng chia sẻ trên các website Việt Nam hiện nay và có lẽ là thống kê đầy đủ nhất từ trước tới nay về phần này mà mình được thấy. Nghĩ tác giả cũng không cần tặng hoa hay ném trứng thối mà cần thảo luận nhiều hơn nên viết blog để gạch ra mấy ý chính mình muốn phản hồi :

  • Có lẽ nên sử dụng Social News để thay thế cho Social Bookmarking, như vậy đúng với bản chất của các site hiện tại hơn. Mô hình Bookmark của Delicious có lẽ tới nay đã không còn phù hợp. Không chỉ đơn giản là chuyện socialize chức năng bookmark cho cá nhân mình, Social News giúp việc crowd-sourcing để tìm ra tin tức nổi bật nhất tốt hơn. Digg, Reddit, Mixx hay Linkhay đã “tiến hóa” từ Social Bookmarking Sites sang Social News. Facebook, Twitter, Zing Me xếp vào Social Bookmarking hay Social News cũng đều hơi cưỡng ép.
  • Đã không còn là chuyện bookmark cho bản thân mình mà là chuyện crowd-source thì yếu tố cộng đồng rất quan trọng và sự gắn kết trong cộng đồng lại càng quan trọng. Đính lại cái hình về Reach và Affinity ở đây. Reach cao mà Affinity kém thì cũng không ổn, nhất là để làm crowd-source. Yếu tố cộng đồng và văn hóa cộng đồng cũng giúp giải thích việc tại sao có những link share trên cộng đồng này thì được tặng hoa, share trên cộng đồng kia thì bị ném đá hoặc không được ủng hộ (như việc bạn @vietbio có than thở tại LinkHay).

Social Influence: reach vs affinity

(pix courtesy of Stefano Maggi – Under Creative Commons License)

  • Nhắc tới Làn sóng ngầm, nhớ tới Groundswell của Forrester. Càng trèo lên cao trong thang này, mức độ tương tác càng phức tạp. Đối với content ví dụ như của Baomoi.com thì đa phần vẫn là Spectator (chỉ xem, không làm gì hoặc thì thầm với nhau offline, chat, email), tiếp tới là Like (~ Spectator – tránh nghĩ rằng độc giả lười không ấn nút Like mà có thể do content không hay sao bắt người ta Like?), tiếp tới là comment hoặc share nhưng có comment riêng (~Critics + Conversationalists), cuối cùng mới là Creators – viết bài blog để đưa ý kiến của mình phản hồi lại bài báo. Chuyện đương nhiên cái gì dễ thì ai cũng làm, views là dễ nhất, like là dễ nhì, comment đã bắt đầu thấy khó rồi, share thì phải bài nào hay lắm mới share và nói lại ý trên là cũng phải hợp cộng đồng mới share, ko thì bài chả nổi lên hot, share mất công (<> bookmark là lưu lại cho bản thân).

  • So sánh chung site nào hơn site nào là tương đối khó. So sánh xem với góc nhìn của người làm marketing cho content thì site nào tốt hơn site nào sẽ dễ hơn và có thể cân đong đo đếm được hơn (tuy vậy cũng tùy xem chiến lược content của người đó ra sao, quan hệ – affinity của người đó trong cộng đồng thế nào …) Vậy nên mới có rất nhiều người nói “Content is King, Context is God” là vậy. Tuy nhiên cũng nên để ý cái thang một chút. FB nó hơn các bạn khác như Zing Me/Twitter/G+ … vì nó có cả Like lẫn Share, nôm na là nó phủ được hai bậc thang, trong khi các bạn chỉ có một bậc (để có bậc Thích/Fav ~ Like thì mình phải vào tận site nhà các bạn chứ không đính lên site nhà mình được)
  • Hồi xưa mọi người cũng hay nói, Sharing is Caring. Mình cho rằng Sharing mà giật lại title hay ho (thường hay gặp trên LinkHay) hoặc đưa ý kiến cá nhân của mình (thường hay gặp trên Twitter/Facebook) cũng là Creating, là sáng tạo thêm và mấp mé ở mức Creator rồi.
  • Vậy, kết luận nếu với góc nhìn của một Marketer, mình đương nhiên sẽ cố gắng đặt hết tất cả các nút share lên site của mình nhưng cũng quan tâm tới việc content đó hợp với site nào mà cụ thể văn hóa cộng đồng ở site đó như thế nào, làm sao để tăng affinity trong cộng đồng (còn tăng reach thì đương nhiên ai cũng cố làm rồi, nhưng reach theo kiểu tôi có Fan Page 100K thành viên nhưng tôi post cái gì lên cũng chẳng có ai phản hồi cả thì tăng cũng không được bao nhiêu hiệu quả). Đương nhiên, mình cũng chấp nhận rằng share, comment là những tương tác ở mức cao nên nếu content của mình không tốt thì dù có nhúng cả 20 nút share của các site khác nhau cũng không ăn thua gì. Mình cũng sẽ có chiến lược riêng cho từng site khác nhau, không lẫn lộn giữa Social News (giống LinkHay, tin hot thì gần như toàn thiên hạ đều nhìn thấy) và SNS (tin mình post chỉ bạn mình/fan mình thấy) và cố gắng sao nếu content được share trên cả Social News lẫn SNS thì là mừng nhất.

 

6 quy tắc để nhân cách hóa (humanize) thương hiệu của bạn

Có khá nhiều ý kiến cho rằng mục tiêu tấn công của Google+ thực sự là Twitter chứ không phải là Facebook để qua đó chiếm lấy vị trí (ít nhất là) thứ 2 trong cuộc chiến về mạng xã hội. Còn hơi sớm để nói về Google+ bởi mạng xã hội này ít ra cũng vừa mới ra đời, đạt được 10 triệu người dùng sau 2 tuần ra mắt và vẫn còn rất nhiều vũ khí bí mật chưa ra mắt (ví dụ profile dành riêng cho doanh nghiệp…)

Trong khi đó, Twitter cũng đã ra đời từ năm 2006 (tới nay được 5 năm) và vẫn chưa rõ mình sẽ kiếm tiền theo cách nào ngoài việc quảng cáo qua những câu Twit (người dùng tự quảng cáo hoặc đặt qua dạng sponsor). Lật ngược lại câu hỏi, Twitter cung cấp khả năng đó nhưng liệu nó có thật sự có ích với người quản lý thương hiệu hay không, Douglas O’Donnell đã có một bài blog mang tên “Twitter Works, but Is It Working for Your Brand?” Điểm quan trọng nhất trong bài viết này có lẽ là 6 quy tắc để nhân cách hóa thương hiệu, những quy tắc hoàn toàn có thể áp dụng được cho bất cứ mạng xã hội nói chung nào chứ không phải chỉ riêng Twitter.

6 Rules of Humanizing Your Brand

  1. Be human and humble (this should come naturally).
  2. Follow the 80% (value add content)/20% (marketing) rule.
  3. Establish Twitter-specific objectives, strategy, and measurement, and optimize.
  4. Seek out your advocates and follow them first; don’t make them find you.
  5. Interact with customers, like you would with a friend in a coffee shop.
  6. Be relevant to their interests, be available to address their needs, and embrace negative comments as opportunities.

(Bonus rule: Fire your legal and editorial departments–unless they are solution biased.)

Cá nhân mình cũng áp dụng các quy tắc này (trừ quy tắc số 3 chưa có được một chiến lược thực sự rõ ràng) và thấy rằng rõ ràng người sử dụng luôn muốn nói chuyện với một con người – chứ không phải một cái máy.

Douglas O’Donnell cũng chỉ ra điểm khác biệt cơ bản giữa Twitter và Facebook, một điểm khác biệt chắc chắn khiến người quản trị thương hiệu rất nhọc. Đó là việc Twitter tập trung vào các cuộc đối thoại, càng tức thời bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Khách hàng hỏi, doanh nghiệp trả lời nhanh, khách hàng sướng. Khách hàng không hỏi nhưng doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng thông tin nhanh thì khách hàng cũng sướng. Một điều thú vị khác mà Douglas O’Donnell cũng mang lại là sự so sánh giữa Community Manager của Twitter và Facebook :

A community manager on Facebook will have a planned strategy, a content calendar, and some guidance on occasional real-time interactions. A community manager on Twitter should be on call, like a doctor.

Ngoài quy tắc số 3 thì có lẽ quy tắc số 6 (Be relevant to their interests, be available to address their needs, and embrace negative comments as opportunities.) cũng là một trong những quy tắc khó và gây cản trở lớn trong quá trình “nhân cách hóa” thương hiệu. Để làm tốt quy tắc này, người quản trị thương hiệu cần bỏ thời gian ra nghiên cứu cộng đồng những người follow mình, qua đó áp dụng quy tắc số 2, số 5 (đương nhiên là cả số 1) cho tốt. Không phải ai cũng có thời gian để làm việc này tốt bởi cũng như bạn bè, bạn không thể hiểu họ qua ngày một ngày hai mà cần cả quá trình lâu dài. Thêm nữa, hiểu được 1-2 người bạn thì dễ chứ hiểu được 1000-2000 rồi 1 triệu – 2 triệu người thì quả là điều không thể.

Twitter và Facebook đã tạo ra những ranh giới tương đối rõ rệt, vậy thì khi mà Google Plus sử dụng cái hay của cả hai để tạo ra sản phẩm cho riêng mình thì thực sự là … khó nói. Khó nói bởi nhiều khi nhiều cái hay quá đứng cùng với nhau chưa chắc đã hay. Trong lúc chờ đợi xem Google Plus tiếp tục phát triển ra sao, có lẽ hãy cứ làm tốt với các account liên quan tới thương hiệu của mình trên Facebook và Twitter đã.

Vấn đề với các loại mô hình kim tự tháp và bậc thang

Bài này là bài viết từ năm 2010 của Richard Millington, nhân dịp rảnh rỗi dọn dẹp tin tức cần đọc (từ năm 2010  :-( ) mới lôi ra đọc lại. Trong bài viết “The problem with ladders and pyramids“, Rich có nêu lên một vài vấn đề cũng khá hay :

The problem is they encourage you to focus on changing the actions rather than provoking the feelings that prompt these actions.

You don’t convert a collector to a critic by asking someone tagging articles to review content, nor by any other trick to solicit that action. Actions are a symptom of increasing engagement, they don’t cause people to be more engaged. These tools are for measurement, not for plans of action.

Actions rarely provoke feelings. Feelings provoke actions. Don’t persuade members on one rung to take the actions of the rung above. This defeats the point. Focus on making members feel more engaged, not act more engaged.

Quay trở lại năm 2010, khi có cơ hội tiếp cận với cuốn Groundswell (cuốn này đã được dịch sang tiếng Việt khá cẩn thận với tiêu đề “Làn sóng ngầm“), mình và @anhhung đã rất háo hức bởi không phải lúc nào bạn cũng có một framework tốt để nghiên cứu và đưa ra quyết định phù hợp. Tuy vậy, sau khi đọc, thử xác định Technographic bằng việc sử dụng poll (và đã có một session tại Barcamp năm đó), nhìn chung bọn mình đều nhận thấy rằng framework này tương đối khó áp dụng và chỉ dành cho các bạn nhà giàu :D . Điều này có nghĩa rằng bạn không có đủ tiền để đưa ra số liệu chính xác, xây dựng Technographic Ladder cho thị trường bạn đang nhắm tới thì coi như là chả đưa ra được quyết định đúng nào cả.

Sau khi ra cuốn Groundswell ra đời một thời gian, nhóm tác giả cũng đã thêm vào Ladder của mình thành phần Conversationalist để bao trùm được Twitter. Tuy vậy, việc thêm thành phần này vào Ladder lúc đó cũng làm mình hơi hoang mang.

Quay trở lại với các loại mô hình kim tự tháp và bậc thang. Chắc hẳn ai cũng biết tháp nhu cầu Maslow trong đó phần nhu cầu an toàn cho bản thân thấp hơn rất nhiều so với nhu cầu thể hiện cá nhân. Cá nhân mình cho rằng việc gắn chặt sản phẩm/con người/khách hàng vào một thành phần nào đó của mô hình kim tự tháp, bậc thang … không được linh hoạt cho lắm và có thể dẫn tới sai lầm. Cái Rich nhấn mạnh qua bài viết của mình có lẽ là cảm xúc ẩn dưới/tạo ra hành động tương ứng với các bậc thang (rung) khác nhau. Hôm qua, khi tham gia buổi offline của Launch + OC với tư cách là một speaker, mình chỉ muốn được nhảy xuống dưới để làm người tham dự bình thường và được phép đặt nhiều câu hỏi cho 3 mạng xã hội nội địa đình đám nhất Việt Nam, trong đó có câu hỏi liên quan tới việc nhu cầu thể hiện cá nhân có thể bị đẩy xuống trở thành nhu cầu an toàn cho bản thân dựa trên việc cảm xúc trên cùng một môi trường với từng case khác nhau có thể thay đổi khác nhau:

Không phải lúc nào mình cũng làm chuyện tốt, bàn chuyện tốt được, giờ mình đóng vai con người xấu xa một chút. Xấu xa thì nghe không tích cực, nhưng mà có nhiều chuyện cũng xấu hổ mà không phải lúc nào cũng có thể thẳng thắn ra mặt mà chia sẻ được. Tỷ như chuyện năm 5 tuổi mình còn tắm chung với cô hàng xóm rất vui, mỗi đứa ngồi trong một cái chậu to vật nhưng đến năm 6 tuổi đi học lớp 1 mình lại bị xấu hổ không tắm chung nữa. Chia sẻ những chuyện ấy trên các mạng xã hội khi có identity quá rõ thì sẽ không hay, trong khi chia sẻ nó ở dạng vô danh kiểu như forum thì sẽ hay hơn. Rồi thì nếu mà mình lỡ lời chia sẻ cái gì đó trên Facebook thì mình vẫn có cảm giác an toàn hơn là chia sẻ trên mạng xã hội ở Việt Nam, bởi không biết lúc nào đó mạng xã hội ở Việt Nam có thể cung cấp thông tin của mình cho chính phủ khi được yêu cầu (và chắc chắn họ phải cam kết điều này nếu muốn cung cấp dịch vụ ở VN). Đấy cũng là lý do mà 3 lần mình định đăng ký account của Go.vn thì đều dừng lại ở phần nhập CMT mà không đăng ký nữa. Các MXH ở VN nghĩ sao về điều này?

Update : Sina Weibo (dịch vụ microblog) cũng trở thành nguồn đưa tin thứ 3 tại TQ bởi lý do duy nhất rằng ở đây (Sina Weibo) ít bị kiểm duyệt hơn ở các chỗ khác khi đưa tin và thảo luận về tin.

Làm Social Media Marketing theo cách của hãng hàng không giá rẻ AirAsia

Định viết về AirAsia từ khi đi Ấn Độ về nhưng rồi lười biếng nên cứ chần chừ mãi chưa viết. Hôm nay, xem được cái Infographic thấy AirAsia đứng thứ ba trong số các hãng hàng không châu Á “nói” nhiều nhất trên Twitter (trong tháng 3/2011) nên mới hạ quyết tâm viết một bài để tổng hợp lại những gì AirAsia đã làm và đã được lợi trong thời gian qua với Social Media.

Trước hết phải nói rằng mình rất happy với AirAsia qua chuyến đi vừa rồi khi bay từ Malaysia sang Ấn Độ trên chuyến bay dài hơn 5 tiếng ngồi Boeing thoải mái (hơn JetStar của Việt Nam) mà chỉ mất có khoảng … 50 USD cho hai chiều. Khó có thể đòi hỏi gì hơn với một chặng đường dài và một số tiền bỏ ra nhỏ như thế, vượt trên cả mức mình mong đợi. Lần mò tìm hiểu về AirAsia, tìm được một slide khá hay tại đây. Trong slide đó, nói khá rõ về Value Proposition, Competitive Advantages và Marketing Strategies của AirAsia. Để đọc kỹ thì bạn có thể (và nên đọc toàn bộ slide đó vì có một phần chú trọng tới việc sử dụng công nghệ để giảm chi phí), còn lại mình chép nhặt 3 phần nói trên ra đây để 8 tiếp (click vào hình để phóng to) :

 

AirAsia - Value Proposition
AirAsia – Value Proposition
AirAsia - Competitive Advantages
AirAsia – Competitive Advantages
AirAsia - Marketing Strategies
AirAsia – Marketing Strategies

Fan Page trên Facebook của AirAsia được tạo vào tháng 4/2009 và đạt 100K fans vào tháng 12 cùng năm khi bắt đầu chạy chiến dịch giảm giá 20%. Sau đó 3 tháng, Fan Page này đạt 205.280 fans và hiện tại theo SocialBakers đã đạt mức gần 1 triệu fans! Kathleen Tan, linh hồn của các chiến dịch này đã nhận xét rất đúng khi cho rằng đây thực sự là cách tiếp cận tốt và có thể dễ dàng phá vỡ rào cản của các phương pháp marketing truyền thống.

“Lifestyle changes on the digital front as news and information are now made available real-time via the social media platform. This has prompted AirAsia to engage in social media to connect with our guests, and the response has proven to be encouraging through AirAsia’s Facebook Fan page.”

We interact, listen, have some fun, engage and action if we encounter complaints and not hide. Transparency is crucial. Of course we are also learning lessons on how to improve.”

“You can say that AirAsia’s Facebook Fan Page has become a one-stop service centre for guests travel needs…”

Hôm trước trong 5Desire nhớ rằng có bạn bên Thái Hà Book hỏi rằng liệu nhân lực ít có làm Social Media được không? Bé tí như ePi thì không vấn đề gì nhưng ngay cả như AirAsia lúc khởi đầu cũng chỉ có duy nhất 01 nhân viên chuyên trách về mảng này. Sau khi Fan Page trên Facebook bùng nổ và đạt tới con số 300K, AirAsia đã có 5 nhân viên chuyên trách 24/7 và sau đó mở rộng lên đến 7 người. Ms Tan cũng chia sẻ rằng Facebook là miễn phí và thay vì sử dụng một chiến dịch dùng quảng cáo trên báo giấy tốn 2 triệu RM (~ 660.000 USD), họ đã thử thực hiện chiến dịch này trên Facebook. Với 3-4 ngày khởi động bằng các thông báo, trong ngày chính thức chạy chiến dịch thì server book vé đã … sập luôn và kết quả AirAsia có được gần 900.000 lượt book vé thành công sau hai ngày chạy chiến dịch. Một điều mà Ms Tan chia sẻ (mà có lẽ cũng rất thực tế) là việc thông báo trên Fan Page còn tốt hơn quảng cáo trên báo ở chỗ các Fan trên Facebook đã có hiểu biết sẵn về chiến dịch nên không gọi điện tới Call Center chỉ để hỏi thông tin (và không mua vé) khiến Call Center bị lụt nhưng hiệu suất lại không cao. Nhờ đó, Fan Page trên Facebook và Twitter còn giúp cho AirAsia giảm tải công việc của Call Center. Sau trải nghiệm này, Marketing Strategy của AirAsia này ngày càng chuyển dịch nhiều về Online và Social Media hơn.

Không chỉ có Facebook và Twitter, Air Asia cũng đã mở rộng tới cả các mạng xã hội địa phương như Renren hay Sina (bao giờ tới Zing, Go và BạnBè nhỉ?) Đồng thời, họ cũng mở các Fan Page trên Facebook cho từng quốc gia một (tuy nhiên hình như chưa có ở Việt Nam. Lần trước khi delay một ngày chuyến bay của mình, ngoài gửi thư thì Call Center tại Indonesia cũng đã gọi điện tận nơi để thông báo lại cho mình biết). Ngoài ra, FlickrYoutube Channel cũng là một phần trong chiến lược sử dụng Social Media của AirAsia.

Để đạt được điều này, AirAsia có một sự thống nhất toàn diện từ lãnh đạo cấp cao và đây thực sự là một nhân tốt cực kỳ quan trọng trong việc triển khai Social Media thành công tại doanh nghiệp.

“This is a movement not just at the corporate level but generally our staff also embrace it and use as tools to communicate and share experiences. It is driven at top level as most of our CEOs and senior management tweet, including me.” – Ms Tan

Không hẳn là AirAsia không có những lúc chưa thực sự sử dụng hiệu quả Social Media, tuy vậy khi có sự nhất quán từ trên xuống dưới, có đội ngũ 24×7 chuyên biệt để ngụp lặn trên môi trường Social Media, AirAsia thực sự đang chuyển hóa cách làm PR với việc sử dụng môi trường online, nâng cao khả năng hỗ trợ và giao tiếp khách hàng, cung cấp cho khách hàng một touch-point cởi mở và dám làm dám nhận, tạo điều kiện để brand va đập và tiến sát với trải nghiệm thực của khách hàng. Đúng như lời Ms Tan nhấn mạnh “social media is a commitment – it isn’t just about learning about theories and technologies, it’s about immersing yourself in social media as well“.

Nhìn lại hàng không Việt Nam, có một chút thoáng buồn. Nếu bạn tìm thấy Fan Page hay active Twitter Account của Jetstar (hay một account khác liên quan tới Social Media ở VN), xin hãy chỉ cho mình. Cá nhân mình thì có tìm thấy một Fan Page của Vietnam Airlines trên Facebook với gần 15K fans nhưng có vẻ hoạt động rất cầm chừng kể từ khi Facebook bị chặn không chính thức. Hy vọng rằng qua bài học của AirAsia, các hãng hàng không Việt Nam sẽ có thể có cách làm tốt hơn với môi trường online. Đương nhiên, nếu họ muốn và cảm thấy cần làm!

Hãy yêu nhau đi, hãy tin nhau đi

Sáng nay có đọc được bài có tiêu đề “Can Social Media Be Trusted?“. Trong bài này có nhắc tới nghiên cứu của eMarketer với đánh giá cho rằng Blog post, status update trên FB được tin cậy nhất (bởi những người nằm trong social graph của người tạo ra content), sau đó đến Twitter thì giảm, forum cũng không có tính tin cậy bằng. Đây là một tín hiệu khá lạc quan đối với SM. Tuy vậy, đây không phải là nghiên cứu ở Việt Nam mà là ở Mỹ, mà Mỹ thì khác với Việt Nam.

SNS ở Việt Nam đang xoay theo một chiều hướng khó lường. Facebook vẫn tồn tại và có cộng đồng nhất định (bài học của Y!360 cho thấy một khi người sử dụng đã muốn gắn bó thì chỉ có nước đốt nhà đuổi họ đi thì họ mới chịu đi). Hai SNS hàng đầu được kỳ vọng là Zing Me và GoOnline cũng sẽ có những bước chuyển biến có định hướng hơn so với một SNS thông thường (ví dụ như việc Zing Me sắp sửa triển khai một vài ứng dụng liên quan tới e-learning, mạng giáo dục Go Online tăng traffic trở lại nhờ Miss Teen – một hoạt động thiên về tôn vinh vẻ đẹp hơn là có tính chất giáo dục).

Twitter ở VN quá bé. Forum vẫn có tiếng nói khá lớn, đặc biệt là với các vấn đề liên quan tới công nghệ và sức khỏe. Một số nhãn hàng đã chịu khó đối thoại nhiều hơn với người sử dụng thông qua Forum và đây thực sự là một tín hiệu vô cùng tích cực. Đỉnh điểm của đối thoại có lẽ là topic “Kinh nghiệm mua & sử dụng điều hòa nhiệt độ” ở trên diễn đàn … Webtretho. (tks @anhhung vì đã chỉ cho mình topic này). Topic không thực sự là đi sát với chủ đề của diễn đàn nhưng rất có ích nên đã nhanh chóng đạt 100 trang và phải chuyển sang phần 2, lập một kỷ lục khó tưởng tượng cho bất kỳ diễn đàn nào.

Blog. Chúng ta vẫn nói rằng Blog dù thế nào vẫn cứ là động cơ của Social Media. Khi mà cái tôi được thể hiện rõ nét nhất, người nói có trách nhiệm với điều mình nói nhất. Thế nhưng blog ở VN thì xịt dần sau khi Y!360 ra đi và Facebook tiến vào VN. Điều đó chứng tỏ ở VN chưa bao giờ thực sự có một văn hóa viết blog rõ nét mà cái người ta cần ở Y!360 thực ra là khả năng kết nối và cập nhật thông tin của nhau, thế mạnh của SNS chứ không phải blogging platform. Có lẽ giờ những người viết blog ở VN để thể hiện cái tôi thật sự của mình (về mọi chủ đề, không kể tới chính trị) không quá 1000-10000 người.

Đêm qua trong lúc chờ sao băng có đi lang thang trên Web (mà cuối cùng trời nhiều mây chả nhìn thấy ngôi sao băng nào). Bất chợt lạc vào blog của một bạn trẻ (xin được không nêu địa chỉ vì không viết bài này để nói hay phê phán cá nhân) cứ ngồi nghĩ mãi. Trước hết đây là blog post của bạn trẻ đó (click để phóng to)  :

Fake Blog - Osla

Yanky. Kể cả đây mà là một bài advertorial thì nó cũng là một bài trơn tuột ai đọc 3 câu cũng “ngửi” ra mùi chứ chưa nói là một bài blog. Phải chăng, các nhãn hàng cứ nghĩ đơn giản có một hai bạn trẻ nổi tiếng với vài nghìn tới vài chục nghìn người đọc/ngày nói gì là người ta cũng tin hay sao? TV phủ sóng cả 80 triệu dân người ta còn chẳng tin cơ mà? Phải chăng các bạn trẻ cứ nghĩ rằng nếu viết blog như vầy thì vẫn có người đọc hay sao? Ai cần đọc blog của bạn khi mà những điều bạn viết có tràn lan trên báo rồi? Họ cần chính kiến của bạn cơ!

Vậy đó, yêu mà không tin thì chẳng lâu bền được. Muốn khách hàng yêu mình thì phải làm cho khách hàng tin mình, mà muốn tin thì cứ dùng Social Media vô tội vạ là được hay sao? Hy vọng rằng những bài blog như thế này sẽ bớt dần đi, những bài viết thực sự có ích (như bài viết trên forum WTT về … điều hòa) sẽ tăng dần lên.

160-140

Giới hạn ký tự của SMS là 160 ký tự.

Twitter giảm giới hạn này xuống còn 140 ký tự để viết (trừ ra 20 ký tự để đề tên người).

Tiếng Anh dường như ngắn hơn tiếng Việt nếu nói một câu dài. Chưa có điều kiện để xác thực nhưng các bạn bảo mình rằng điều này là do số lượng từ tiếng Việt ít hơn số lượng từ tiếng Anh. Nói cách khác để mô tả một sự việc, tiếng Anh chỉ cần dùng một từ trong khi tiếng Việt có khi phải dùng một cụm. Rất chi là có lý.

Tuy vậy, rất ngạc nhiên khi với tiếng Trung Quốc thì một câu có 114 ký tự có thể tương đương với tận 430 ký tự tiếng Anh (tức là gần gấp 4 lần tính một cách cơ học).

Điều thú vị nữa là người đề ra giới hạn 160 ký tự lại là người Đức. Ông tính giới hạn này bằng cách viết ngẫu nhiên các câu tiếng Đức và từ độ dài các câu này suy ra số lượng ký tự tối thiểu để viết một câu hoàn chỉnh là 160 ký tự.

Nếu đó không phải là người Đức mà là người Trung Quốc hay người Việt Nam thì có lẽ chưa chắc đã có Twitter. Nói thế bởi người tạo ra Twitter lại là người Mỹ. Ví dụ như người Trung Quốc mà phát minh ra SMS thì họ chỉ cần 160/4 = 40 ký tự mà thôi. Lúc đó chắc hẳn người Mỹ khi nghĩ tới việc viết micro-blog qua SMS mà có 40 ký tự là oải luôn.

Toàn cầu hóa cũng có điểm hay, điểm may rủi là vậy.

Facebook, Twitter hay Google Buzz?

Lifehacker hôm vừa rồi có một bài viết khá chi tiết mang tên “Which Social Network is Right For You?“. Điểm được nhất trong bài viết theo tôi có lẽ là bảng so sánh (comparison chart) giữa Twitter, Google Buzz và Facebook. Bảng so sánh này không hề nói tới traffic hay số lượng user theo kiểu “User của anh mà mang ra đè chú thì chú sập nhà“.

(pix courtesy of Lifehacker)

Xin đọc chi tiết cả bài viết để xem đánh giá của Lifehacker. Cá nhân tôi có sử dụng cả ba mạng xã hội này và thấy các đánh giá của Lifehacker khá chuẩn. Google Buzz không hề thuyết phục được tôi bởi các lý do liên quan tới Volume Control (mà Lifehacker đã nói) cùng một lý do khác : tôi không thể truy cập vào Google Buzz nếu tôi không vào Google Mail, mà tôi thì dùng Mail (3rd client) để check mail chứ không vào thẳng trang web. Có cảm giác Google Buzz chưa định hình rõ (hoặc chưa show hàng rõ) xem mình sẽ trở thành ai, như thế nào. Chờ xem sao thôi! Dù sao, các tiêu chí để so sánh ở trên cũng khá tốt để tham khảo.

“Reconnect with…”, cách Facebook sẽ phá vỡ số Dunbar?

Nghĩ một hồi về Facebook, lòng vòng thế nào lại nghĩ tới việc ăn cưới chùa. Thế nên nói về cái này trước. Ăn cưới chùa nôm na là ăn cưới không có quà mừng cô dâu chú rể. Thường thì bạn bè người thân họ hàng ai cũng sẽ có quà mừng, không thì phong bao. Nếu ai lỡ không có điều kiện thì cũng cố gắng phong bao ít ít. Thế nhưng lại có những người chuyên đi ăn đám cưới chùa. Họ ăn mặc rất lịch sự để đi ăn cưới. Nhà gái thì lại nghĩ là khách của nhà trai, nhà trai thì lại nghĩ là khách của nhà gái. Phong bì thì bỏ đầy giấy lộn rồi đương nhiên ngồi ăn. Ít thôi, ít lắm lắm luôn. Nhưng mà có.

—————————————————

Tôi có một thói quen, một thói tò mò là hay quan sát người khác. Có một hai lần rảnh lắm lắm không có chuyện gì làm thì ra đầu ngõ ngồi uống nước trà. Bà bán nước trà bị câm, khách cũng đủ loại thành phần. Nhưng nghe họ nói chuyện rất vui. Thế là đủ. Chẳng cần mình nói gì. (Nó giống với việc add Twitter của một ai đó hay ho mà mình chẳng cần nói gì, chỉ cần nghe người ta là đủ thấy vui). Ngày xưa từ hồi có Y!360 đã phát huy cái tính này mà chính ra lại kiếm được bao nhiêu bạn tốt (về sau có cả room-mate luôn). Đến khi Facebook ra đời cũng vậy. Thấy ai hay ho thì lại add. Không nhất thiết bạn phải nổi tiếng (nếu bạn nổi tiếng, tôi sẽ đưa bạn vào list riêng – Online Celeb hẳn hoi nhé :D ), chỉ cần bạn có cái gì đó hay hay là tôi lại muốn “nghe”, muốn xem bạn bạn nghĩ gì, bạn làm gì, bạn nghĩ khác tôi nghĩ như thế nào. Thế nên, giờ Facebook có hơn 800 bạn mà chắc chỉ biết được 1/3 số người trong đó. 2/3 số người không biết tôi thì tôi cũng không hiểu tại sao họ add mình. Thế nên mới liên tưởng tới những người đi đám cưới chùa. [Read more...]

Ai mua “Twit” tôi?

Đây là bài viết thứ 4 trong loạt bài với chủ đề “Social Media – Giá của sự miễn phí“.

Tên của bài viết này được copy từ câu rao nổi tiếng trong truyện cổ tích Việt Nam mà tôi rất thích, truyện “Ai mua hành tôi” (hay còn có tên là Lọ nước thần). Người vợ vì quá xinh đẹp nên đã bị vua/quan phủ bắt mất và người chồng phải đi gánh hành đi bán khắp nơi, với mục đích chủ yếu là tìm vợ.

Twitter là một trong những thành phần không thể thiếu được của Social Media. Có khá nhiều tranh luận về việc Twitter có phải là mạng xã hội hay không do sự khác biệt đặc thù của nó đối với các mạng xã hội khác, nhưng rõ ràng có một điều là bản thân Twitter đang miễn phí và mọi người thì lại đang … kiếm tiền trên Twitter. Không hiểu founder của Twitter sẽ phải đi rao cái gì để có thể tìm được mục tiêu chính của mình – tiền để tồn tại và phát triển được sinh ra từ chính Twitter.

Bài đầu tiên tôi đã viết về sự thành công của Dell khi sử dụng Twitter. Đó rõ ràng là một case study tiêu biểu của nhà sản xuất khi sử dụng Twitter. Tuy vậy, trong bài này chúng ta sẽ xem xét tới khía cạnh của người tiêu dùng, người sử dụng Twitter bình thường. Họ có thể kiếm lời khi sử dụng Twitter hay không?

Nếu Twitter là tiếng chim hót lảnh lót thì Magpie là con chim ác là hay nghĩa bóng là người ba hoa. Be-a-magpie là mô hình cho phép người sử dụng bán twit của mình cho người cần quảng cáo.

magpie_sketch_01

Mô hình hoạt động của Magpie được thể hiện khá rõ trên hình. Người cần quảng cáo sẽ đưa thông tin quảng cáo cho Magpie, Magpie sẽ tự động chọn ra người sử dụng hợp lý (contextual ads) và sẽ chèn một câu twit quảng cáo vào trong stream của người sử dụng. Người sử dụng được phép chọn tần suất chèn quảng cáo, cách thức tính tiền (cứ chèn vào là lấy tiền – giống CPM, khi bạn của anh ta click vào thì mới tính tiền – giống CPC, khi tạo ra lead/sale mới tính tiền – giống CPA). Đây dường như là một cách làm khá tốt vì khi sử dụng contextual ads, quảng cáo hiện ra sẽ tương đối liên quan tới người sử dụng Magpie -> khả năng mà mạng của anh ta, những người quan tâm tới Twit của anh ta quan tâm là cao.

Nghe có vẻ khá hấp dẫn, phải không bạn? Thậm chí, người sử dụng có thể kiểm tra xem tối đa mình có thể kiếm được bao nhiêu tiền một tháng ngay trên trang Magpie.

2009-08-05_0849

Bạn sẽ hỏi tôi, vậy Twitter có lợi lộc gì ở đây? Nếu thực sự đây là một mô hình tốt, Twitter có thể thu phí của Magpie (theo gói hoặc theo % số tiền người sử dụng Magpie nhận được). Tuy vậy, Magpie không phải không có những vấn đề của mình [Read more...]

Dell Outlet – Đầu tiên vẫn cứ phải là tiền

Mình dự tính sẽ viết một vài bài với chủ đề “Social Media – Giá của sự miễn phí“. Loạt bài này sẽ chú trọng vào việc phân tích các case thành công của Social Media và chỉ ra rằng, giá của sự miễn phí không rẻ chút nào. Đồng thời, mình cũng hy vọng rằng bản thân mình và mọi người có một cái nhìn “công bằng” hơn với Social Media, không coi nó là “chiếc đũa thần” nhưng cũng đừng coi nó chỉ là một trò nhảm. Cái gì cũng có giá trị của nó nếu được đặt đúng chỗ. Hãy ủng hộ mình bằng cách chỉ ra những case có cùng quan điểm của mình và tốt hơn nữa là những case cho thấy kết luận của mình là sai lầm. Không chém gió, nếu chém cũng phải đi từ thực tế! Bingo.

—————————–

Trong khi các bạn khác vẫn còn đang đau đầu vì sử dụng Social Media như thế nào cho hiệu quả thì ngày 12/6 vừa qua, Dell Outlet đã công bố vượt qua mức doanh thu 2 triệu USD chỉ thông qua việc quảng bá và bán hàng trên Twitter.

Dell đã bắt đầu sử dụng Twitter cho Dell Outlet vào tháng 6 năm 2007 và sau đó đã áp dụng chiến lược sử dụng Twit như công cụ để quảng bá về các exclusive offer của mình, đặc biệt là về các mặt hàng refurbished (các mặt hàng bị khách hàng trả lại và sau đó được nhà sản xuất sửa lỗi để bán tiếp).

twitter-xps-dealdell-twitter-offer

Chỉ trong vòng 3 tháng, Dell Outlet đã “tuyển” (recruit) được hơn 500.000 users follow mình và trở thành một trong 20 account có số lượng người follow nhiều nhất (theo TwitterCounter).

7331_4000_delloutlet-twitter-sales

Dell đã phát huy thành tích của mình với các account Twitter khác như @DellHomeOffers hay @DellSmBizOffers (mở rộng về đối tượng khách hàng theo nhu cầu) và @DellHomeSalesAu hay @Ofertas_Dell_MX (mở rộng về đối tượng khách hàng theo khu vực địa lý – Úc/Mexico…). Cho tới giờ, Dell có tới hơn 200 nhân viên thường xuyên tương tác với khách hàng của mình thông qua Twitter.

———————

Q/A cho case này :

  1. Dell có thành công không? [Read more...]